1. Pháp luật quy định về người đại diện doanh nghiệp như thế nào?

Theo khoản 1 Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020 người đại diện theo pháp luật là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có những trách nhiệm sau:

- Thực hiện các quyền, nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;

- Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp; không lạm dụng địa vị, chức vụ, tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

- Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về việc người đại diện đó và người có liên quan của họ làm chủ, có cổ phần, phần vốn góp chi phối tại các doanh nghiệp.

- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ nêu trên.

 

2. Nhờ người khác đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp có bị coi là vi phạm pháp luật không?

Căn cứ vào khoản 4 Điều 16 Luật Doanh nghiệp năm 2020 có đưa ra quy định về các hành vi bị cấm, trong đó có bao gồm hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp. Như vậy, việc nhờ người khác đứng tên trên Giấy chứnh nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được coi là hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.  

Và người thực hiện hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ doanh nghiệp và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp sẽ bị áp dụng hình thức xử lý là phạt tiền với mức phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng (căn cứ tại Điều 43 Nghị định 122/2021/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư). 

Ngoài ra, khoản 2 Điều 4 Nghị định 122/2021/NĐ-CP thì mức phạt quy định trong Nghị định này là mức phạt được áp dụng đối với tổ chức, nên đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với cá nhân vi phạm sẽ bằng 1/2 (bằng một phần hai) mức phạt tiền đối với tổ chức. Tức là, cá nhân thực hiện hành vi kê khai gian dối nội dung hồ sơ doanh nghiệp (nhờ người khác làm người đại diện theo pháp luật trong giấy đăng ký kinh doanh) sẽ bị phạt tiền với mức phạt tù 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

 

3. Một số trường hợp nhờ người khác đứng tên trong Giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp ?

Khi đã quyết định nhờ người khác đứng tên công ty, cá nhân, tổ chức dường như cũng đã chấp nhận những rủi ro. Về bản chất thì những đối tượng nhờ người khác đứng tên trong Giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp thường là bị cấm thành lập doanh nghiệp, nhưng họ lại “lách luật” bằng cách nhờ người khác đứng tên. Do đó, những trường hợp dưới đây là những trường hợp thường xảy ra tình trạng nhờ người khác đứng tên trong Giấy đăng ký kinh danh.

 

3.1. Đối với các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp

Theo khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì những đối tượng sau không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp:

- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức;

- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;

- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng.

Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh; 

- Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, những trường hợp được liệt kê trên đây không có quyền đứng ra để thành lập và quản lý công ty, cụ thể:

- Thành lập công ty: tức là nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp để trở thành cổ đông sáng lập công ty cổ phần, thành viên góp vốn của công ty Trách nhiệm hữu hạn, thành viên công ty hợp danh.

- Giữ các chức danh quản lý trong doanh nghiệp: Người đại diện theo pháp luật, Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị, ...

 

3.2. Một số trường hợp khác nhờ người khác đứng tên 

- Thành viên hợp danh muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân, thành lập công ty hợp danh khác; 

- Chủ doanh nghiệp tư nhân muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân khác hoặc công ty hợp danh, hộ kinh doanh;

- Nhà đầu tư nước ngoài không đủ điều kiện thành lập tổ chức kinh tế theo pháp luật đầu tư. 

 

4. Một số rủi ro khi nhờ người khác đứng tên trong Giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp

-  Người nhờ đứng tên không có tư cách pháp lý trong công ty

Khi nhờ người khác đứng tên công ty, quyền và nghĩa vụ đối với một thành viên, cổ đông trong công ty hoàn toàn thuộc về người được nhờ đứng tên công ty. Đặc biệt, khi người nhờ đứng tên lại tiến hành các hoạt động giao dịch, đàm phán với khách hàng và đối tác, về mặt pháp lý, người này không có tư cách gì trong công ty. Điều này sẽ dẫn đến sự mất tin tưởng, gây ra sự nghi ngờ khi giao dịch cho đối tác, từ đó ảnh hưởng đến uy tín khi kinh doanh. Một số quyền lợi khác về mặt pháp lý như: tuyển dụng lao động, quyết định cơ cấu tổ chức công ty, triệu tập họp công ty…người nhờ đứng tên cũng không được trao quyền.

- Bị phạt về hành vi kê khai thông tin doanh nghiệp không trung thực

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền có căn cứ chứng minh việc cá nhân nhờ người khác đứng tên hộ thì có thể bị xử phạt hành chính.

Theo khoản 3 Điều 8 Luật Doanh nghiệp năm 2020, doanh nghiệp có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó. Mức xử phạt sẽ được áp dụng theo quy định được phân tích nêu trên.

- Dễ xảy ra tranh chấp giữa các bên

Trong quá trình hoạt động, công ty sẽ có những sai phạm khó tránh khỏi liên quan đến thuế, hay là các vấn đề với các đối tác mà phải giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền như: Toà án, rọng tài, …Trường hợp này, người được nhờ đứng tên là người có tư cách pháp lý để giải quyết.

Tuy nhiên, nếu không thoả thuận rõ từ ban đầu, một số trường hợp người được nhờ đứng tên không thực hiện đúng nghĩa vụ của một thành viên công ty, của một người đại diện theo pháp luật trong các quan hệ pháp luật với đối tác, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến một số hậu quả như tình hình công ty kinh doanh bị thua lỗ. Lúc này, sẽ có tranh chấp giữa người nhờ đứng tên và người được nhờ đứng tên.

Vì vây, nếu nhờ người khác đứng tên hộ công ty, các bên thường lập một hợp đồng uỷ quyền. Nội dung của hợp đồng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên, những công việc cụ thể mà người được nhờ đứng tên phải làm khi đứng tên hộ công ty, ... để tránh phát sinh các tranh chấp giữa hai chủ thể này. 

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua Email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê vềNhờ người khác đứng tên thành lập doanh nghiệp có bị phạt không ?​ ​Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật  doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê