1. Những cải cách ở vòng Uruguay

Hoa Kỳ đã ủng hộ việc thay đổi các thủ tục giải quyết tranh chấp từ Vòng Tokyo. Lợi ích của Hoa Kỳ trong cuộc cải cách này là dựa trên cơ sở cho rằng Hoa Kỳ luôn tuân thủ các quy định của GATT nhiều hơn các đối tác thương mại của họ. Tuy nhiên, đến giữa Vòng Uruguay, không phải chỉ có lợi ích của Hoa Kỳ thúc đẩy nỗ lực cải cách mà còn do nhận thức của các nước khác cho rằng cuộc cải cách sẽ hạn chế hành động đơn phương của Hoa Kỳ.

Thời gian đầu của Vòng Uruguay, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ CJSTR) đã ủng hộ những thay đổi cụ thể, lập luận rằng hệ thống giải quyết tranh chấp đã “làm mất uy tín của nó và cùng với nó, là niềm tin đối với một thể chế lớn hơn.” Bốn cuộc cải cách đã được đề xuất. Thứ nhất, Hoa Kỳ tán thành sự cần thiết tăng cường vai trò của tổng giám đốc hoặc cử ra một trung gian hòa giải trong các cuộc tranh chấp tay đôi. Cuộc cải cách này được gắn với việc bảo vệ toàn diện hơn vai trò tham vấn như là sự thay thế cho các hội đồng xét xử chính thức. Thứ hai, Hoa Kỳ đề nghị rằng trong các trường hợp khi mà các bên đồng ý, họ có thể yêu cầu một trọng tài làm trung gian. Điều đó không có nghĩa rằng một nước nào đó bị phát hiện vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình thì phải thay đổi hành vi của mình. Hoa Kỳ lập luận rằng các nước cần có chấp nhận sự trả đũa hoặc đền bù (USTR 6). Thứ ba, Hoa Kỳ lập luận rằng thời hạn để giải quyết tranh chấp cần phải rút ngắn lại. Cuối cúng, Hoa Kỳ khuyến nghị rằng các thành viên hội đồng xét xử nên được chọn từ một bản danh sách các chuyên gia trung lập phi chính phú.

2. Sự thay đồi lập trường của Hoa Kỳ

Lập trường của Hoa Kỳ khi kết thúc Vòng Uruguay đã không nhất quán với lập trường ban đầu của họ, mặc dù đến năm 1990 Hoa Kỳ còn có sự thay đổi triệt để hơn trong chính sách của mình. Với sự hiểu biết mới về giải quyết tranh chấp đã được chấp nhận trong Tổng kết Giữa nhiệm kỳ năm 1989 của Vòng Uruguay, thì không có ai ngạc nhiên nếu vấn đề này nằm ngoài chương trình nghị sự suốt thời gian còn lại của vòng đàm phán này. Tuy vậy, đến tháng 12-1990 Hoa Kỳ nhận thấy lợi thế trong việc ra tay ủng hộ một sự thay đổi triệt để thẩm quyền từ tay chính phủ các nước sang cho định chế thương mại. Chủ đề chính là đã đến lúc để các nước thành viên đồng ý từ bỏ quyền của mình để ngăn chặn sự đồng thuận trong việc thành lập hội đồng xét xử, thông qua các báo cáo của hội đồng xét xử, và biện pháp trả đũa. Lúc đầu hên kết chặt chẽ với Canada nhưng không phải với các nước tứ hùng khác, Hoa Kỳ đề nghị không chỉ sự thông qua tự động các báo cáo của hội đồng xét xử mà còn quyền khiếu nại lên Cơ quan Phúc thẩm mới mà mục đích của nó là giám sát công việc của các hội đồng xét xử các vấn đề về luật pháp. Thời hạn cho quy trình này dựa vào chính quy định trong Điều luật 301 của Hoa Kỳ. Đối với Hoa Kỳ, lập trường có vẻ như triệt để này là tùy thuộc vào điều kiện - những quy tắc cốt lõi được thông qua tại Vòng Uruguay phải phản ánh thích đáng các mục tiêu chính sách của Hoa Kỳ.

Trong nước, việc trao quyền được tăng lên theo các điều khoản này đã được lập luận để phù hợp với các lợi ích của Hoa Kỳ: Hoa Kỳ vẫn sẽ tuân thủ nhiều hơn các nước đối tác thương mại đối với các quy định của WTO phản ánh các lợi ích và các mục tiêu chính sách của Hoa Kỳ. Nếu các quy định cơ bản của WTO phù hợp với Hoa Kỳ, và các thủ tục giải quyết tranh chấp vừa phù hợp với thời hạn hành động theo Điều luật 301 vừa có thể ủy quyền áp dụng biện pháp trả đũa đối với trường hợp không tuân thủ, thì một hệ thống giải quyết tranh chấp WTO hợp pháp hơn sẽ cho phép Hoa Kỳ sử dụng sức mạnh thị trường của mình một cách hợp pháp để gây sức ép các nước khác tuân theo các mục tiêu chính sách thương mại của Hoa Kỳ. Đáng chú ý là, Hoa Kỳ đã chuyển sang lập trường này trong việc cải cách giải quyết tranh chấp vào cuối năm 1990, cúng lúc đó Hoa Kỳ đạt được thỏa thuận với EC để áp đặt các kết quả của Vòng Uruguay lên các nước đang phát triển thông qua “sự cam kết đơn phương” đã được trình bày trên. Một vài nước đồng ý với sự phân tích của Hoa Kỳ về vấn đề ai sẽ đứng trước hội đồng xét xử. Nhưng ngăn chặn chủ nghĩa đơn phương của Hoa Kỳ là một trong những nhân tố nổi bật nhất đối với lợi ích của cả Nhật Bản và EC tại vòng đàm phán đã được công khai nêu lên, và cả hai đã tán thành các cuộc cải cách, khẳng định sự tán thành của mình.

3. Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO

Có ba bước chính trong quá trình giải quyết tranh chấp trong WTO: 1. Tham vấn giữa các bên; 2. Quá trình xét xử của Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm; 3. Thực thi phán quyết trong đó có khả năng áp dụng biện pháp trả đũa trong trường hợp bên thua kiện không thực thi phán quyết.

Các thủ tục này chiếm 35 trang văn bản và một bản giải thích chi tiết kèm theo. Quy trình này phức tạp và chính xác hơn nhiều so với trước và bao hàm mọi lĩnh vực của các thỏa thuận WTO, bao gồm các hành động theo Điều luật 301 của Hoa Kỳ. Hiệp định về Sự thỏa thuận về giải quyết tranh chấp (DSU) có tính bắt buộc, tự động, và chính trị hơn so với các quy định của GATT. Hiệu quả của sự thay đổi - sự tăng lên rất lớn của việc áp dụng quy trình giải quyết tranh chấp - rộng lớn hơn nhiều so với dự kiến của hầu hết mọi người. Trong khi 535 các vụ khiếu kiện giải quyết tranh chấp đã được đưa ra trong thời gian 46 năm tồn tại của hệ thống GATT, thì 269 vụ khiếu kiện đã được đưa ra trong thời gian tám năm đầu tiên của riêng hệ thống WTO. Sự thay đổi lớn nhất trong hệ thống tư pháp của WTO là tính chất tự động của quy trình mới. Bây giờ đòi hỏi phải có sự đồng thuận mới có thể ngăn chặn thông tin của hội đồng xét xử, thông qua báo cáo, hay ủy quyền trả đũa đối với trường hợp tiếp tục vi phạm - sự đảo ngược quy tắc trước đây chỉ đòi hỏi sự đồng thuận để chuyển giai đoạn của quá trình xét xử. Tất nhiên, các bên khiếu nại sẽ không đồng ý việc ngăn chặn thành lập hội đồng xét xử mà họ đang yêu cầu, và các bên thắng kiện sẽ không ngăn chặn việc thông qua các báo cáo của hội đồng xét xử có lợi cho họ.

Sự thay đổi có ý nghĩa khác là việc thành lập một cơ quan tư pháp để các nước có thể khiếu nại các báo cáo của hội đồng xét xử lên cơ quan này. Thẩm quyền của Cơ quan Phúc thẩm bị chính thức giới hạn chỉ kiểm tra lại các điều tra pháp lý do hội đồng xét xử tiến hành, nếu xét đến các dữ kiện là do hội đồng xét xử xác lập. Cơ quan Phúc thẩm có bảy ủy viên, được lựa chọn bởi các thành viên khác, và các khiếu nại được đưa ra trước một nhóm nhỏ gồm ba thành viên.

4. Biện pháp trả đũa

Khi một thành viên không tuân thủ quyết định giải quyết tranh chấp của WTO, bất chấp các cơ hội để làm điều đó trong một “thời hạn hợp lý” (có thể được xác định bởi DSB), thì bên khiếu nại bị thiệt hại có thể trả đũa.

Việc trả đũa tiến hành bằng hình thức nâng mức thuế quan đối với mặt hàng có xuất xứ từ lãnh thổ của nước vi phạm tới mức dự kiến sẽ có hiệu quả triệt tiêu nhu cầu nhập khẩu đối với mặt hàng đó. Sự trả đũa phải cân xứng với hệ quả xấu do bên vi phạm gây ra.

Dù có sự chính thức hóa và mở rộng quy trình giải quyết tranh chấp, các vấn đề thương mại vẫn được giải quyết về cơ bản theo cách cũ đã áp dụng trong hơn 50 năm qua. Các bên kiện cáo dẫn các bên đến để tham vấn ý kiến - khoảng một phần ba các đơn kiện cáo được giải quyết ở đây, bởi vì hoặc là một nghị quyết đưa ra là đã đủ, hoặc sự không khoan nhượng hay tầm quan trọng của vấn đề làm cho không bên nào muốn có một quyết định ủy quyền hành động. Hầu hết các cuộc điều tra tư pháp thực sự thường dẫn các nước đến chỗ thay đổi hành vi của họ, nếu thuận tiện về chính trị. Nếu không, các nước có thể yêu cầu trả đũa, nhưng họ thường không làm như vậy. Phổ biến hơn cả là những tranh cãi giữa các nước lớn (như vấn đề thép giữa Hoa Kỳ, EC và Nhật Bản, và các vấn đề chuối, thịt bò hoóc môn, và các công ty bán lẻ nước ngoài giữa EC và Hoa Kỳ) thường dẫn đến các biện pháp trả đũa.

5. Tìm hiểu về bước tham vấn trong thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO

Mục tiêu ưu tiên của DSU là các thành viên liên quan giải quyết tranh chấp với nhau theo cách thức phù hợp với các hiệp định của WTO (Điều 3.7 của DSU). Do vậy, tham vấn song phương giữa các bên là giai đoạn giải quyết tranh chấp chính thức đầu tiên (Điều 4 của DSU). Các cuộc tham vấn song phương tạo cho các bên một cơ hội để thảo luận vấn đề và tìm ra một giải pháp thỏa đáng cho các bên mà không phải tranh tụng (Điều 4.5 của DSU).

Chỉ sau khi các cuộc tham vấn bắt buộc đó không đem lại được một giải pháp thỏa đáng cho các bên trong vòng 60 ngày thì bên khiếu kiện có thể đề nghị được xét xử thông qua Ban Hội thẩm (Điều 4.7 của DSU). Ngay cả khi các cuộc tham vấn thất bại, các bên vẫn luôn có khả năng, cơ hội tìm ra được một hình thức hòa giải với nhau ở bất kỳ bước nào trong quá trình giải quyết tranh chấp sau đó.

Đến nay, đa số các tranh chấp trong WTO vẫn chưa đi quá các cuộc tham vấn, một phần vì các bên tìm được giải pháp hòa giải thỏa đáng, hoặc vì bên khiếu kiện quyết định không theo đuổi vấn đề xa hơn nữa vì các lý do khác.

Đề nghị tham vấn chính là việc chính thức đưa một tranh chấp ra WTO và khởi động quá trình áp dụng các quy định giải quyết tranh chấp. Thành viên khiếu kiện đưa ra đề nghị tham vấn với thành viên bị kiện nhưng cũng phải thông báo đề nghị này tới Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB), các Hội đồng và Ủy ban giám sát Hiệp định liên quan (Điều 4.4 của DSU). Cũng theo Điều này, một đề nghị tham vấn phải được đệ trình bằng văn bản và phải đưa ra các lý do đề nghị, xác định các vấn đề gây tranh cãi và chỉ ra các cơ sở pháp lý của bên khiếu kiện.

Trừ trường hợp có các thỏa thuận khác, bên bị khiếu kiện phải trả lời đề nghị tham vấn trong vòng 10 ngày và phải bước vào tham vấn với thiện chí trong khoảng thời gian không quá 30 ngày sau ngày nhận được đề nghị tham vấn. Nếu bên bị khiếu kiện không đáp ứng thời hạn trên, bên khiếu kiện ngay lập tức có thể tiến hành các bước để có thể xét xử giải quyết tranh chấp và đề nghị thành lập một Ban Hội thẩm (Điều 4.3 của DSU).

Ngay cả trong trường hợp bên khiếu kiện cam kết tham vấn thì bên khiếu kiện vẫn có thể tiến hành đề nghị thành lập một Ban Hội thẩm trong khoảng thời gian sớm nhất là 60 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị tham vấn, với điều kiện là vẫn chưa tìm được một giải pháp thỏa đáng nào trong quá trình tham vấn.

Tuy nhiên, bước tham vấn có thể kết thúc sớm hơn nếu các bên cũng cân nhắc thấy rằng các cuộc tham vấn không giải quyết được tranh chấp (Điều 4.7 của DSU). Trong thực tế, các tranh chấp thường cho phép họ có một khoảng thời gian đáng kể dài hơn mức tối thiểu là 60 ngày.

Trong trường hợp khẩn cấp bao gồm các vấn đề liên quan tới hàng hóa dễ hư hỏng, các thành viên phải bước vào tham vấn trong khoảng thời gian không quá 10 ngày sau ngày nhận được đề nghị tham vấn. Nếu các cuộc tham vấn không giải quyết được tranh chấp trong khoảng thời gian 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị thì bên khiếu kiện có thể đề nghị thành lập một Ban Hội thẩm (Điều 4.8 của DSU).

Một thành viên của WTO không phải là bên khiếu kiện, không phải là bên bị khiếu kiện có thể quan tâm đến vấn đề mà các bên tranh chấp đang thảo luận trong các cuộc tham vấn của họ. Trong trường hợp đó, thành viên nói trên được coi là bên thứ ba trong các cuộc tham vấn. Thành viên đó có thể đề nghị tham gia các cuộc tham vấn nếu thấy lợi ích của họ bị tác động bởi các cuộc tham vấn này.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)