1. Những lưu ý khi chuyển nhượng bất động sản?

Xin văn phòng luật sư cho em hỏi là: Bố chồng em có hai người vợ(ông đã mất), bà đầu gồm 8 người con(bà đã mất),Bà sau gồm 4 người con, em là con dâu của bà vợ hai( bà vợ hai vẫn còn sống).
Vậy giờ em muốn mua lại căn nhà của ông bà đứng tên (ông và bà vợ hai đứng tên sổ đỏ) .Vậy khi mua em cần những thủ tục gì để tránh tranh chấp về sau?
Em xin chân thành cảm ơn.
Tên khách hàng: TNA

Với trường hợp của bạn, khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, bạn cần lưu ý những vấn đề sau theo quy định của Luật Đất đai 2013:

Thứ nhất: Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai năm 2013 . Đây là bằng chứng chứng minh chủ thể nào có quyền thực hiện quyền chuyển nhượng. Trường hợp của bạn khá phức tạp, vì thế, bạn cần xác định những vấn đề sau:

1- Bố chồng bạn với hai bà vợ có quan hệ vợ chồng được pháp luật thừa nhận không?

2- Quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở là tài sản chung của những ai?

3- Nếu bố chồng bạn có quyền sở hữu một phần quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở thì hiện nay, phần tài sản ấy được chia thừa kế cho những người nào theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005?

Từ đó, bạn phải xác định được những ai đang có tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất và những ai tuy không có tên trên giấy nhưng có quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở đó để đảm bảo yêu cầu về chủ thể trong giao dịch được thỏa mãn.

Thứ hai: đất không có tranh chấp;

Thứ ba: quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

Thứ tư: trong thời hạn sử dụng đất.

Thứ năm: hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở phải được công chứng, chứng thực theo quy định của Luật Đất đai 2013 như sau:

"Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

Trên đây là một số vấn đề bạn cần lưu ý khi thực hiện việc nhận chuyển nhượng bất động sản. Chúc bạn thành công! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Hai cá nhân muốn đổi đất cho nhau thì làm thế nào?

Chào Luật Minh Khuê, xin hỏi: Mình và anh T đang muốn đổi cho nhau mảnh đất thổ cư ở 2 xã khác nhau. Và mình sẽ các thêm cho anh T 100 triệu đồng để đổi mảnh đất này. Ra bên công chứng họ hướng dẫn mình làm hợp đồng tặng cho. Nhưng mình thấy rằng nếu làm hợp đồng tặng cho thì phần chênh lệch 100 triệu thì làm thế nào?
Mong Luật Minh Khuê đưa ra cho mình hướng giải quyết!

Trả lời:

Về loại hợp đồng tặng cho được quy định tại Điều 457 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 457. Hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.

Bản chất của hợp đồng tặng cho là một hợp đồng không có đền bù. Trong hợp đồng tặng cho, bên tặng cho trao cho bên được tặng cho tài sản của mình mà không yêu cầu bên kia phải trao lại cho mình một lợi ích vật chất khác. Người nhận tài sản được tặng cho không phải trả cho bên đã tặng cho một khoản tiền hay một lợi ích vật chất nào.

Trong trường hợp trao đổi đất thực hiện bằng hợp đồng tặng cho thì sẽ không đúng với bản chất của sự việc. Do đó, bạn có thể lựa chọn hình thức đó là hợp đồng trao đổi tài sản. Hợp đồng trao đổi tài sản được quy định tại Điều 445 và 456 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 455. Hợp đồng trao đổi tài sản

1. Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau.

2. Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định.

3. Trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

4. Mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về. Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 430 đến Điều 439, từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 454 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản.

Điều 456. Thanh tóan giá trị chênh lệch

Trường hợp tài sản trao đổi chênh lệch về giá trị thì các bên phải thanh toán cho nhau phần chênh lệch đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Từ căn cứ trên ta thấy rằng : Khi hai cá nhân đổi đất cho nhau chính là việc các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau. Do đó, sử dụng hình thức hợp đồng trao đổi tài sản là hợp lý và đúng bản chất của sự việc. 100.000.000 đồng chênh lệch về giá trị bạn có thể ghi rõ trong hợp đồng trao đổi tài sản.

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ? Thủ tục mua bán, tách sổ của lô đất ?

3. Khi ra Toà em có kiện để đòi lại đất được không?

Thưa luật sư, xin tư vấn cho em một việc như sau. Bố mẹ em ly hôn đã hơn 4 năm nay và bố em đã đăng ký kết hôn với một người phụ nữ khác được gần hai năm rồi. Trong thời gian đó cô ý thường xuyên đưa bố em đi chữa bệnh và giúp việc nhà nhưng tối cô ý về nhà của mình chứ không ở lại nhà em. Trước khi ly hôn với nhau, tài sản là bố mẹ em tự thỏa thuận với nhau.
Trong đó bố em đồng ý cho hai chị em gái 30m2/người, còn lại cho em trai. Nhưng bố em chỉ hứa mà chưa làm sổ. Các bác họ hàng ai cũng biết việc này. Em muốn hỏi là nếu bố em để lại di chúc, có chia đất cho người vợ mới thì khi ra toà em có kiện để đòi lại đất được không? vì em nghĩ nếu người vợ mới không có đóng góp gì để xây dựng nhà cửa thì không được chia tài sản. Trong trường hợp, bố em không may mất đột ngốt mà không để lại di chúc thì tài sản nhà em được chia như thế nào ạ?
Em cảm ơn Luật Minh Khuê rất nhiều!

Khi ra Toà em có kiện để đòi lại đất được không?

Luật sư tư vấn Luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về việc tặng cho bất động sản

Việc bố bạn đồng ý cho hai chị em gái 30m2/người, còn lại cho em trai vào thời điểm bố mẹ bạn ly hôn là quyết định về tặng cho bất động sản nhưng tại Khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 459. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.....

Việc bố bạn chỉ nói miệng, không lập thành văn bản, không có công chứng, chứng thực là không phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi vậy sự việc tặng cho này là không được pháp luật chấp nhận.

Thứ hai, về thừa kế tài sản

1. Thừa kế theo di chúc

Pháp luật quy định "Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật." (Điều 609 - Bộ luật Dân sự 2015). Theo quy định đó, bố bạn có quyền định đoạt tài sản đứng tên sở hữu của mình sẽ được chia cho ai, chia bao nhiêu, pháp luật tôn trọng và bảo vệ quyền này.

Nếu bố bạn lập di chúc và di chúc đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được xem là di chúc hợp pháp (Điều 630 - Bộ luật Dân sự năm2015) thì tài sản của ông sẽ được chia theo di chúc. Giả sử bố bạn chia đất cho người vợ thứ hai thì chỉ cần người vợ này không nằm trong trường hợp "người không được quyền hưởng di sản" quy định tại điều 621 - Bộ luật Dân sự 2015 thì vẫn có quyền hưởng di sản. Bạn không có quyền phản đối trong trường hợp này. Bên cạnh đó thì Điều 644 BLDS cũng quy định đến trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Trường hợp tiếp theo: Nếu bố bạn không may mất đột ngột và không để lại di chúc, thì tài sản đứng tên sở hữu của ông sẽ được chia theo pháp luật. Pháp luật quy định về vấn đề này như sau:

Điều 651 - Bộ luật Dân sự 2015:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại...

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?

4. Bố đẻ tự ý bán đất của nhà con trai khi con trai chết có đúng pháp luật hay không?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi Luật sư một việc như sau: Có một thửa đất ở rộng hơn 1000 m2, thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên:
Huy ( ông Huy sinh năm 1975}. Năm 2011, ông Huy bị bệnh và đã chết, không để lại di chúc. Ông Huy có vợ (Có đăng ký kết hôn) và hai đứa con, vợ và con cả ông Huy đang đi làm ăn xa, con út ông Huy ở nhà với ông nội ( Bố đẻ của ông Huy) là ông Tươi. Tháng 8 năm 2017, ông Tươi tự ý cắt trong thửa đất này 60 m2 bán cho ông Dũng ở liền kề với giá 5 triệu đồng. Tuy nhiên vợ ông Huy dứt khoát không đồng ý.
Vậy xin hỏi luật sư: Việc ông Tươi tự ý bán 60 m2 đất như vậy có đúng không? Hướng giải quyết vụ việc này thế nào là hợp lý nhất?
Xin cảm ơn!.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp này, người sở hữu hợp pháp mảnh đất 1000m2 căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Huy, do đó, việc Ông Tươi ( bố đẻ ông Huy) tự ý bán đất của ông Huy là không đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ quy định tại điều 194, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 194. Quyền định đoạt của chủ sở hữu

Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.

Như vậy, trường hợp này ông Tươi không phải là chủ sở hữu hợp pháp của thửa đất trên nên việc ông Tươi bán đất cho ông Dũng là trái quy định cả pháp luật. Do đó, giao dịch dân sự giữa ông Tươi và ông Dũng sẽ bị vô hiệu và hai bên phải tiến hành khôi phục lại tình trạng ban đầu theo quy định tại điều 131, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Để giải quyết vấn đề này và đảm bảo quyền lợi của những người được hưởng di sản thừa kế khi không có di chúc thì ông Tươi hoặc vợ con ông Huy có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật (chia thừa kế theo hàng thừa kế). Căn cứ quy định tại điều 643, Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 643. Hiệu lực của di chúc

1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.

2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

3. Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Như vậy, ông Tươi cùng vợ và hai con của ông Huy cùng hàng thừa kế với nhau nên sẽ được hưởng di sản thừa kế bằng nhau. Khi có quyết định của Tòa án về chia di sản thừa kế thì những người được hưởng di sản trở thành chủ sở hữu hợp pháp phần di sản đó và có quyền định đoạt theo ý chí của mình.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Vấn đề quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài sản của người đã chết?

Cha tôi lúc còn sống có giao dịch vay mượn với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn với số tiền là 300.000.000 đồng, tài sản thế chấp là giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất do cha tôi đứng tên, mẹ tôi lúc đó cũng tham gia giao dịch với nghĩa vụ là người thừa kế, cứ thế vay đáo hạn ngân hàng nhiều lần.

Một thời gian sau, cha tôi bệnh nặng, cha tôi đã ủy quyền cho mẹ tôi đến ngân hàng trên để đáo hạn. Sau đó cha tôi mất, hạn ngân hàng lại đến, mẹ tôi và tôi tiếp tục đến ngân hàng trên đáo hạn (Cha mẹ tôi có 2 người con, lúc giao dịch em tôi mới 15 tuổi, chưa đủ tuổi thành niên, nên không tham gia giao dịch). lúc này khi đi công chứng và văn phòng đăng ký QSDĐ, UBND xã nơi đất tọa lạc đều xác nhận có tài sản trên do cha tôi đứng tên và xác nhận để gia đình chúng tôi đáo hạn ngân hàng với số tiền là 300.000.000đồng. Sau này, do làm ăn thất bại, gia đình tôi không còn khả năng trả nợ, ngân hàng đòi kê biên phát mãi tài sản. Sau đó, phía ngân hàng đã đến văn phòng đăng ký QSDĐ huyện và UBND xã nơi tọa lạc xác minh thì các cơ quan trên điều trả lời rằng hiện tại phần đất do cha tôi đứng tên đã chuyển nhượng cho người khác đứng tên. Phía ngân hàng đã kiện gia đình chúng tôi ra tòa án, yêu cầu gia đình chúng tôi trả số tiền trên, nếu không thì yêu cầu tòa án khởi tố hình sự., quan điểm của gia đình tôi đồng ý trả số tiền trên, nhưng do làm ăn thất bại, nên không có khả năng thanh toán một lần mà trả nhiều lần, nhưng phía ngân hàng không đồng ý.

Mà yêu cầu gia đình chúng tôi trả dứt điểm, nếu không thì yêu cầu khởi tố hình sự gia đình tôi (cụ thể là mẹ tôi) về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xin quý công ty luật tư vấn giúp tôi. Trong trường hợp này, mẹ tôi có bị khởi tố về tội danh trên không? Và phía văn phòng Đăng ký QSDĐ, UBND xã là bên liên quan, nhưng lại trả lời không thống nhất. Vậy tôi phải làm sao?

Mong quý công ty luật hướng dẫn giúp đỡ. Trân trọng cảm ơn!

Bố đẻ tự ý bán đất của nhà con trai khi con trai chết có đúng pháp luật hay không?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại......

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh......

Theo quy định trên của Bộ Luật Hình sự 2015 thì hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội khi thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. (Xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt). Đối chiếu với trường hợp của mẹ bạn, gia đình bạn không có thủ đoạn gian dối nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả số mợ của ngân hàng và cũng muốn thỏa thuận với ngân hàng việc trả nợ dần cho đến khi hết số nợ. Như vậy không thỏa mãn các dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngân hàng muốn tố cáo mẹ bạn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hành vi nêu trên của mẹ bạn là không có căn cứ pháp luật.

Theo thông tin bạn cung cấp, người đứng tên vay tiền của ngân hàng là bố của bạn, sau khi bố bạn mất thì những người được hưởng di sản thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản theo quy định tại bộ luật dân sự 2015, cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 615 Bộ luật dân sự 2015:

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.

3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.

Như vạy, mẹ bạn và những người thừa kế có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản mà bố bạn để lại trong phạm vi di sản được nhận.

Về vấn đề các bên liên quan không có văn bản thống nhất về vấn đề trên, bạn có thể làm văn bản đề nghị các cơ quan này trả lời rõ ràng. Nếu các cơ quan đó cố tình không trả lời rõ ràng, bạn có thể làm đơn khiếu nại theo thủ tục quy định tại Luật khiếu nại 2011.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email L[email protected] hoặc qua Tổng đài luật sư tư vấn: 1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn lập, viết, soạn thảo di chúc và quy định về di chúc trực tuyến qua tổng đài