1. Người lao động được nghỉ việc hưởng nguyên lương vào ngày 3 tháng 2 hay không ?

Theo quy định tại Điều 112 Bộ luật Lao động 2019, người lao động tại Việt Nam được hưởng quyền nghỉ làm việc và nhận nguyên lương trong những ngày lễ và tết quan trọng trong năm. Cụ thể, có tổng cộng 6 dịp nghỉ lễ tết chính, và người lao động sẽ được nghỉ làm việc trong khoảng thời gian này và tiếp tục nhận nguyên lương.

Đầu tiên, vào ngày 1 tháng 1 âm lịch, người lao động sẽ có một ngày nghỉ lễ Tết Dương lịch.

Sau đó, đến Tết Âm lịch, họ sẽ được nghỉ lên đến 5 ngày.

Thêm vào đó, có 1 ngày nghỉ vào ngày 30 tháng 4 dương lịch để kỷ niệm Ngày Chiến thắng.

Ngày 1 tháng 5 là Ngày Quốc tế lao động, người lao động cũng được nghỉ 1 ngày.

Có 2 ngày nghỉ liên tiếp là Quốc khánh, bao gồm ngày 2 tháng 9 dương lịch và 1 ngày liền kề trước hoặc sau đó.

Cuối cùng, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, người lao động còn được nghỉ 1 ngày để tưởng nhớ và kính dương Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.

Điều đáng chú ý là, đối với lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, họ được hưởng thêm 2 ngày nghỉ, bao gồm 1 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 1 ngày Quốc khánh của nước họ. Điều này nâng tổng số ngày nghỉ lễ tết lên thành 13 ngày.

Ngoài các dịp nghỉ lễ tết cố định, theo quy định của Điều 112 Bộ luật Lao động 2019, hằng năm, Thủ tướng Chính phủ có quyền quyết định cụ thể ngày nghỉ cho người lao động dựa trên điều kiện thực tế. Điều này có thể tạo ra thêm những ngày nghỉ đặc biệt, nhằm tăng cường cho người lao động thời gian nghỉ và giảm áp lực công việc hàng ngày. Tất cả những ngày nghỉ lễ tết này đều được đảm bảo người lao động nhận đầy đủ nguyên lương, giúp họ có thêm niềm vui và năng lượng tích cực để bắt đầu công việc mới sau kỳ nghỉ

Như vậy người lao động có 6 ngày lễ tết trong năm và được nghỉ làm việc hưởng nguyên lương tổng cộng 11 ngày, cụ thể: Tết Dương lịch: 1 ngày; Tết Âm lịch: 5 ngày; Ngày Chiến thắng: 1 ngày; Ngày Quốc tế lao động: 1 ngày;  Quốc khánh: 2 ngày; Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: 1 ngày

Còn ngày 3/2 là ngày thành lập Đảng không nằm trong danh mục ngày nghỉ lễ, tết nên người lao động không được hưởng nguyên lương khi nghỉ vào ngày này.

 

2. Người lao động có được xin nghỉ thêm thời gian nghỉ lễ tết hay không?

Theo quy định của Điều 115 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong một số trường hợp đặc biệt. Cụ thể, nếu người lao động kết hôn, họ sẽ được nghỉ 03 ngày. Trong trường hợp con đẻ hoặc con nuôi kết hôn, họ được nghỉ 01 ngày. Ngoài ra, khi có sự mất mát trong gia đình như cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha hoặc mẹ kết hôn, con đẻ hoặc con nuôi chết, người lao động được nghỉ thêm 03 ngày để ổn định tinh thần và chấp nhận sự thay đổi trong cuộc sống gia đình.

Tuy nhiên, nếu xảy ra các sự kiện buồn liên quan đến ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; cha hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn, người lao động sẽ chỉ được nghỉ 01 ngày và không hưởng lương. Điều này có thể là một thách thức đối với người lao động, đặc biệt khi họ muốn có thêm thời gian để chấm dứt vài ngày nghỉ lễ tết của mình.

Tuy nhiên, theo Điều 115, người lao động có thể tự thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ thêm mà không hưởng lương. Điều này mở ra khả năng cho người lao động muốn kéo dài thời gian nghỉ lễ tết của mình, nhưng điều quan trọng là phải có sự đồng ý từ phía công ty. Quy định này giúp tạo điều kiện cho sự linh hoạt và thỏa thuận giữa hai bên, nhưng cũng đồng thời bảo vệ quyền lợi của người lao động và không gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, việc thảo luận và đạt được sự thỏa thuận là quan trọng để đảm bảo cả hai bên đều hài lòng và không xảy ra bất kỳ tranh cãi nào liên quan đến quyền lợi lao động và quản lý nhân sự

 

3. Ngày nghỉ hằng năm được hưởng nguyên lương của người lao động

Theo Điều 113 và Điều 114 của Bộ luật Lao động 2019, ngày nghỉ hằng năm và chính sách liên quan đến việc hưởng nguyên lương của người lao động được định rõ để bảo vệ quyền lợi và tạo điều kiện thuận lợi cho họ. Người lao động, sau khi đã làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động, sẽ được hưởng ngày nghỉ hằng năm tùy thuộc vào điều kiện và loại công việc mà họ đang thực hiện.

Theo đó, người làm công việc trong điều kiện bình thường sẽ được nghỉ 12 ngày làm việc. Trong khi đó, người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sẽ được hưởng 14 ngày làm việc. Đối với những người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, họ sẽ có 16 ngày làm việc để nghỉ hằng năm. Điều này thể hiện tầm quan trọng của việc bảo vệ sức khỏe và tinh thần của những nhóm lao động đặc biệt.

Trong trường hợp người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng, họ sẽ được nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc. Điều này là công bằng để đảm bảo rằng người lao động còn mới trong môi trường làm việc cũng được hưởng quyền lợi nghỉ hằng năm.

Trong trường hợp thôi việc hoặc mất việc mà chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm, người lao động sẽ được thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ. Điều này đảm bảo rằng họ không bị mất quyền lợi nghỉ hằng năm sau khi chấm dứt quan hệ lao động.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và thông báo trước cho họ biết. Ngoài ra, người lao động có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần, tạo điều kiện linh hoạt và thuận tiện cho cả hai bên.

Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy và số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày, họ sẽ được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ tính một lần nghỉ trong năm. Điều này làm giảm gánh nặng cho người lao động khi di chuyển và đồng thời tạo điều kiện cho họ để tận hưởng thời gian nghỉ của mình một cách thoải mái và không lo lắng về việc bị tính giảm lương.

Cuối cùng, theo quy định, cứ sau mỗi 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động, người lao động sẽ được tăng thêm 01 ngày nghỉ hằng năm. Điều này là một động thái khích lệ và công bằng để động viên người lao động duy trì cam kết và sự đóng góp của họ trong thời gian dài. Đồng thời, cũng là một biện pháp giúp duy trì sự hài lòng và cam kết của nhân viên với tổ chức làm việc

 

4. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm của ngày nghỉ lễ, tết được trả lương như thế nào?

Theo quy định tại Điều 98 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm thêm giờ vào ban đêm trong những ngày lễ tết sẽ được hưởng mức lương khác nhau, phản ánh sự đánh giá cao về sự đóng góp và cống hiến của họ trong những thời điểm quan trọng này.

Ngày làm thêm giờ vào ngày lễ Quốc khánh, người lao động sẽ nhận được mức lương cao nhất, đạt đến 300% so với ngày làm việc bình thường. Điều này thể hiện sự đánh giá đặc biệt về sự hi sinh và tích cực làm việc trong những dịp quan trọng của quốc gia.

Ngoài ra, nếu người lao động làm việc vào ban đêm, họ sẽ được nhận thêm 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường. Điều này là một sự khuyến khích cho những người lao động chấp nhận làm việc vào thời điểm khó khăn như ban đêm, giúp đảm bảo hoạt động liên tục và hiệu quả của doanh nghiệp.

Nếu tính thêm vào đó, người lao động còn được hưởng thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết. Điều này giúp tăng cường động lực cho những người lao động làm thêm giờ vào ban đêm trong những ngày quan trọng, làm tăng giá trị của công việc và đồng thời giữ cho họ duy trì sự hứng khởi và cam kết với công việc của mình.

Tổng cộng, nếu tính toán tất cả các yếu tố trên, người lao động làm thêm giờ vào ban đêm vào ngày lễ tết sẽ nhận được tổng cộng 490% lương so với ngày làm việc bình thường. Đây là một mức lương hấp dẫn và công bằng để thúc đẩy tinh thần làm việc và đảm bảo sự hài lòng và động viên cho người lao động.

Tuy nhiên, quy định cũng có những hình phạt nếu người sử dụng lao động không thanh toán đầy đủ tiền lương ngày lễ tết. Họ có thể phải đối mặt với mức phạt tùy thuộc vào việc vi phạm của họ, và cũng phải bồi thường lãi suất cho số tiền lương chậm trả theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố. Điều này là để đảm bảo quyền lợi và sự công bằng cho người lao động, đồng thời khuyến khích người sử dụng lao động tuân thủ đầy đủ các quy định và cam kết của họ đối với nhân viên

 

Bài viết liên quan: Những ngày nghỉ được hưởng nguyên lương của người lao động?

Liên hệ hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn