- Căn cứ pháp lý:
- 1. Khái niệm thi hành pháp luật
- 2. Mục đích của tổ chức thi hành pháp luật
- 3. Nội dung hoạt động tổ chức thi hành pháp luật
- 4. Mối quan hệ giữa “tổ chức thi hành pháp luật” với “thi hành pháp luật”
- 4.1. Tổ chức thi hành pháp luật với xây dựng pháp luật
- 4.2. Tổ chức thi hành pháp luật với theo dõi thi hành pháp luật
- 5. Vị trí và vai trò của tổ chức thi hành pháp luật
Căn cứ pháp lý:
- Nghị định 34/2016/NĐ-CP;
- Nghị định số 123/2016/NĐ-CP.
1. Khái niệm thi hành pháp luật
Với cách hiểu “thi hành pháp luật” là hành vi đưa các quy định pháp luật tồn tại trong văn bản quy phạm pháp luật được cơ quan lập pháp và các cơ quan có thẩm quyền khác ban hành thành các chuẩn mực ứng xử thực sự của các chủ thể là đối tượng chịu sự tác động của văn bản quy phạm pháp luật trong cuộc sống, thi hành pháp luật trở thành con đường chủ yếu để các yêu cầu của pháp luật tồn tại trên giấy (trong văn bản quy phạm pháp luật) đi vào cuộc sống, trở thành thực tiễn sinh động của đời sống kinh tế - xã hội. Với nhận thức như vậy, về cơ bản, có thể hiểu “thi hành pháp luật” chính là hành vi (các hoạt động) của các chủ thể trong xã hội nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, biến các yêu cầu của pháp luật trở thành hành vi thực tế của các chủ thể trong xã hội.
Quan niệm “thi hành pháp luật” với nghĩa rộng như vậy đi kèm với sự đa dạng về chủ thể thi hành pháp luật là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai đoạn hiện nay, theo đó, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật, không được đứng trên pháp luật (đều phải thượng tôn pháp luật).
2. Mục đích của tổ chức thi hành pháp luật
Về mục đích của tổ chức thi hành pháp luật, có thể thấy rằng bảo đảm cho các yêu cầu của pháp luật được hiện thực hóa, hay nói cách khác, bảo đảm cho các nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật đặt ra cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân được tuân thủ đầy đủ, bảo đảm cho các quyền mà pháp luật ghi nhận được tổ chức, cá nhân hưởng dụng là mục đích quan trọng hàng đầu của tổ chức thi hành pháp luật. Việc tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả còn hướng tới mục tiêu cao hơn là duy trì trật tự xã hội an ninh, an toàn, tạo môi trường thuận lợi cho xã hội phát triển bền vững.
3. Nội dung hoạt động tổ chức thi hành pháp luật
Các hoạt động tổ chức thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước (nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống) khá đa dạng. Nội dung của các hoạt động này được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Chính quyền địa phương (trước đây là Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân), các đạo luật chuyên ngành, Nghị định quy định chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, cơ quan ngang Bộ (hiện tại là Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ).
Đặc biệt, theo quy định tại Điều 183 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật thì: “Văn bản quy phạm pháp luật phải được tổ chức thi hành kịp thời, hiệu quả. Đối với luật, pháp lệnh, nội dung tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật tập trung vào các vấn đề sau:
1. Xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
2. Tổ chức thực hiện chính sách, biện pháp trong văn bản quy phạm pháp luật;
3. Phổ biến văn bản quy phạm pháp luật;
4. Ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật (nếu có);
5. Tập huấn văn bản quy phạm pháp luật;
6. Tổ chức tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức;
7. Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực để triển khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
8. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
9. Sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
10. Báo cáo việc tổ chức triển khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị, xử lý vướng mắc trong việc tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.”
Có thể thấy, 10 loại hoạt động được nêu trong Điều 183 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP rất toàn diện. Mặc dù vậy, về mặt lý luận, nội dung quy định tại Điều 183 kể trên cũng còn một số điểm chưa chuẩn xác. Quy định kể trên của Nghị định 34/2016/NĐ-CP coi việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật với tư cách là văn bản hướng dẫn thi hành của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn như là một hoạt động tổ chức thi hành pháp luật. Chúng tôi cho rằng, điều này sẽ tạo ra sự nhầm lẫn giữa hoạt động “xây dựng pháp luật” với hoạt động “thi hành pháp luật”. Cần phải khẳng định rằng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định chi tiết văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn là hoạt động xây dựng pháp luật (về bản chất là một dạng “lập pháp theo ủy quyền” như cách gọi của khoa học pháp lý) chứ không phải là hoạt động “thi hành pháp luật”. Thêm vào đó, công việc “tổ chức thực hiện chính sách, biện pháp trong văn bản quy phạm pháp luật” chưa được giải mã rõ gồm những loại hoạt động cụ thể nào. Ngoài ra, hoạt động “phổ biến văn bản quy phạm pháp luật” với hoạt động “tập huấn văn bản quy phạm pháp luật” cũng có thể xếp chung vào cùng một nhóm và cần có cách diễn đạt phù hợp hơn với quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
4. Mối quan hệ giữa “tổ chức thi hành pháp luật” với “thi hành pháp luật”
Với một cơ quan hành chính nhất định, khi thực hiện tổ chức thi hành pháp luật, cơ quan hành chính cũng thường phải thực hiện cả hoạt động “thi hành pháp luật”. Do vậy, với cơ quan hành chính nhà nước, “thi hành pháp luật” được xem là nằm trong hoạt động “tổ chức thi hành pháp luật”. Tuy nhiên, bản thân thuật ngữ “tổ chức thi hành pháp luật” còn mang hàm ý tổ chức môi trường, điều kiện, tiền đề để các chủ thể khác thi hành pháp luật. Chính vì thế, có những hoạt động tổ chức thi hành pháp luật không được xem là “thi hành pháp luật” của chính bản thân mình, mà cần được xem là tạo tiền đề để chủ thể khác thi hành pháp luật. Chẳng hạn, việc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức cơ quan đăng ký kinh doanh để các doanh nghiệp, người dân tiến hành hoạt động thành lập doanh nghiệp mới và đăng ký kinh doanh là hoạt động mang tính “tổ chức thi hành pháp luật”.
4.1. Tổ chức thi hành pháp luật với xây dựng pháp luật
Có thể thấy rằng, nếu tổ chức tốt hoạt động thi hành pháp luật, thì chính đây lại trở thành môi trường, là phép thử về tính “đúng đắn” của pháp luật. Điều này có nghĩa rằng, tổ chức thi hành pháp luật có thể trở thành môi trường tạo ra các thông tin đầu vào quan trọng để tiến hành các hoạt động xây dựng pháp luật. Hay nói cách khác, giữa “tổ chức thi hành pháp luật” và “xây dựng pháp luật” có mối quan hệ rất biện chứng và mật thiết với nhau. Kết quả đầu ra của “xây dựng pháp luật” là “đầu vào” của hoạt động tổ chức thi hành pháp luật, và “kết quả đầu ra” của hoạt động tổ chức thi hành pháp luật có thể trở thành “đầu vào” của hoạt động xây dựng pháp luật.
Ngoài ra, ở tầm cao nhất, chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật (nhất là chủ thể của hoạt động lập pháp - Quốc hội) luôn đóng vai trò giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật của cơ quan hành chính ngang cấp. Việc tổ chức thi hành pháp luật không đầy đủ có thể là căn cứ để quy trách nhiệm cho cơ quan hành chính phụ trách địa bàn/lĩnh vực để xảy ra tình trạng thi hành pháp luật không nghiêm. Sự không nghiêm trong thi hành pháp luật có thể biểu hiện rất đa dạng như: buông lỏng quản lý, không thanh tra, kiểm tra thường xuyên, không phát hiện được vi phạm (để tình trạng vi phạm ẩn quá nhiều) hoặc phát hiện được vi phạm nhưng quá chậm trong xử lý hoặc xử lý không đầy đủ, xử lý không nghiêm v.v.
4.2. Tổ chức thi hành pháp luật với theo dõi thi hành pháp luật
Cần xem theo dõi thi hành pháp luật cũng là một trong những hoạt động cụ thể của tổ chức thi hành pháp luật. Theo dõi thi hành pháp luật là hoạt động cần thiết để giúp cho chủ thể tổ chức thi hành pháp luật nắm bắt được tiến trình và kết quả hoạt động tổ chức thi hành pháp luật do mình thực hiện, từ đó có những ứng xử phù hợp. Tổ chức thi hành pháp luật mà không có hoạt động theo dõi thi hành pháp luật thì có thể làm cho chủ thể tổ chức thi hành pháp luật thiếu một kênh thông tin quan trọng để có phản ứng chính sách phù hợp.
5. Vị trí và vai trò của tổ chức thi hành pháp luật
Về vị trí, trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, nhìn từ vòng đời của một văn bản quy phạm pháp luật có thể thấy rằng tổ chức thi hành pháp luật là sự nối tiếp của công đoạn xây dựng pháp luật nhằm bảo đảm các yêu cầu hoặc ý định ban đầu của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật được hiện thực hóa. Chúng ta đều biết, pháp luật, không giống các quy luật vật lý hoặc các quy tắc toán học. Pháp luật luôn mang trong mình những yêu cầu, đòi hỏi mong muốn các tổ chức, cá nhân trong xã hội phải thay đổi hành vi, khuôn mình vào các yêu cầu, đòi hỏi đó. Chính vì thế, pháp luật nhìn chung không có khả năng tự thi hành mà đòi hỏi sự hợp tác thi hành đến từ các đối tượng chịu sự tác động.
Về vai trò, điều đầu tiên cần nhắc tới là tổ chức thi hành pháp luật góp phần đưa các quy định pháp luật tồn tại trên các trang văn bản (công báo) trở thành hiện thực sinh động (các ứng xử thực tế của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội). Nói cách khác, tổ chức thi hành pháp luật đưa pháp luật từ trạng thái “tĩnh” sang trạng thái “động”. Tổ chức thi hành pháp luật làm cho các quy định pháp luật có sức sống một cách thực sự. Chính thông qua “tổ chức thi hành pháp luật”, “uy” và “tín” hay quyền uy của pháp luật được củng cố và bảo đảm.
Tổ chức thi hành pháp luật đóng vai trò là con đường để những tác động dự kiến của pháp luật được hiện thực hóa, qua đó, những ích lợi cho xã hội mà khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chủ thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật mong muốn đạt được.
Tổ chức thi hành pháp luật cũng đóng vai trò là phép thử về tính đúng đắn trong các chính sách được ban hành. Thực tiễn cho thấy, nếu các quy định pháp luật được ban hành mà có sự tính toán kỹ về tính hợp lý, khả thi, có tác dụng tích cực cho đối tượng chịu sự tác động, thì các văn bản quy phạm pháp luật đó dễ được người dân, doanh nghiệp đón nhận và từ đó, việc đi vào đời sống thông qua các hoạt động tổ chức thi hành pháp luật cũng thuận lợi, dễ dàng hơn. Nếu quy định pháp luật được ban hành xa rời thực tế, không khả thi, thậm chí là không có lợi cho sự phát triển chung của xã hội thì việc tổ chức thi hành pháp luật thường gặp nhiều khó khăn. Thực tiễn công tác đền bù, giải phóng mặt bằng trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới cho thấy điều này.
Trân trọng./
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê