1. Quyền chính trị của công dân là gì?

Quyền chính trị của công dân là một trong những quyền con người cơ bản. Quyền con người bao gồm quyền cá nhân (các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa) cũng như quyền tập thể - quyền của các nhóm xã hội như trẻ em, phụ nữ, các nhóm thiểu số (về dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ...) và quyền của mỗi dân tộc (quyền dân tộc tự quyết, quyền đối với tài nguyên thiên nhiên, quyền phát triển...).

Có thể phân loại quyền con người theo nhiều cách: theo lĩnh vực của đời sống xã hội (quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa); theo nhóm đối tượng (phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, người nhập cư, các nhóm thiểu số...); theo thế hệ quyền (quyền con người thế hệ thứ nhất là các quyền và tự do cá nhân mang tính cơ bản, thiết yếu trong lĩnh vực dân sự, chính trị; quyền con người thế hệ thứ hai là các quyền cá nhân trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa; quyền con người thế hệ thứ ba nhấn mạnh các quyền tập thể(1)). Tuy nhiên, bàn về quyền con người nói chung, từ cách tiếp cận phổ biến hiện nay, quyền con người gồm hai nhóm quyền lớn: nhóm các quyền dân sự - chính trị và nhóm các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa; trong đó, quyền chính trị của công dân được xác định là một lĩnh vực quyền cơ bản. Những quyền chính trị nổi bật của công dân bao gồm: quyền tự do ngôn luận, quyền tự do hội họp, quyền tham gia chính trị.

2. Giới thiệu Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị 

Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (tiếng Anh: International Covenant on Civil and Political Rights, viết tắt: ICCPR) là một công ước quốc tế do Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 3 năm 1976, nêu tổng quan các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người. Cụ thể, các bên tham gia ký kết sẽ phải tôn trọng các quyền dân sự và chính trị của từng cá nhân, bao gồm quyền sống, quyền tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do hội họp, quyền bầu cử và quyền được xét xử bình đẳng và theo đúng trình tự pháp luật. Tính tới ngày 19 tháng 12 năm 2010, đã có 72 nước ký vào Công ước và 167 bên tham gia. Trung Quốc, Cuba, Comoros, Nauru, và São Tomé và Príncipe đã ký nhưng chưa thông qua công ước.

Công ước là một phần của hệ thống Luật Nhân quyền quốc tế, cùng với Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được đặt dưới sự giám sát riêng của Ủy ban Nhân quyền, độc lập với Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Cơ quan này có trách nhiệm giám sát việc thực hiện và thẩm định các báo cáo nhân quyền của các nước. Mới đầu, các bên tham gia phải báo cáo định kỳ mỗi năm một lần, nhưng sau đó là bất kỳ khi nào Ủy ban giám sát yêu cầu (thông thường là bốn năm một lần). Ủy ban này họp trụ sở tại Genève hoặc New York và thường có ba kỳ họp mỗi năm.

3. Nội dung quyền chính trị trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị 

Công ước ghi nhận các quyền chính trị như: quyền tự do hội họp và lập hội, quyền tham gia chính trị.

3.1. Quyền tự do hội họp và lập hội

Hai quyền này được quy định tại Điều 21 và 22 của Công ước, là những phương tiện quan trọng giúp thực thi nhiều quyền dân sự, chính trị cũng như các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác. Hai quyền này có sự tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau, song cũng có nhiều điểm khác biệt.

Theo Điều 21, quyền hội họp hoà bình phải được công nhận. Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định và những hạn chế này là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khoẻ của công chúng hoặc nhân cách hoặc bảo vệ quyền và tự do của những người khác. Liên quan đến Điều 21, Ủy ban Nhân quyền hiện chưa có bình luận chung nào, tuy nhiên, từ nội dung của nó có thể thấy rõ tự do hội họp không phải là một quyền tuyệt đối. Những người vi phạm, kể cả các nhân viên thực thi pháp luật, nếu vi phạm quyền hội họp hòa bình phải chịu trách nhiệm pháp lý, bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 22 Công ước tái khẳng định và cụ thể hóa quy định về quyền tự do hội họp tại Điều 20 UDHR. Theo đó, “Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình” (khoản 1).

Hiện chưa có bình luận chung nào của Ủy ban Nhân quyền đề cập đến nội dung của Điều 22 Công ước. Tuy nhiên, có thể thấy quyền tự do lập hội được quy định tại Điều 22 này bao gồm: Quyền thành lập ra các hội mới; quyền gia nhập các hội đã có sẵn và quyền hoạt động, điều hành các hội, kể cả việc tìm kiếm, huy động các nguồn kinh phí.

Theo quy định của khoản 2 Điều 22, việc thực hiện quyền lập hội không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định và những hạn chế này là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khoẻ của công chúng hoặc nhân cách, hoặc các quyền và tự do của những người khác. Điều này không ngăn cản việc hạn chế hợp pháp đối với những người trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát. Ngoài ra, khoản 3 điều này cũng quy định bảo đảm cho quyền này được thực hiện và không bị phương hại.

3.2. Quyền tham gia chính trị

Điều 25 ICCPR quy định về một số quyền thường được gọi chung là các quyền tham gia chính trị. Các chủ thể được hưởng quyền này chỉ giới hạn ở công dân của các quốc gia thành viên. Nội dung của Điều 25 Công ước là sự cụ thể hóa các quy định của Điều 21 UDHR, theo đó “Mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào như đã nêu ở Điều 2 và không có sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và cơ hội để: Tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ lựa chọn; Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm bảo đảm cho cử tri tự do bày tỏ ý chí của mình; Được hưởng các dịch vụ công cộng tại đất nước của mình trên cơ sở bình đẳng”.

Theo giải thích của Ủy ban Nhân quyền, Điều 25 Công ước công nhận và bảo vệ quyền của mọi công dân được tham gia các hoạt động công cộng, quyền bầu cử, ứng cử và quyền được tham gia các cơ quan công quyền. Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên, cho dù thể chế chính trị và hình thức nhà nước như thế nào, cũng phải thực hiện những biện pháp pháp lý và các biện pháp cần thiết khác để bảo đảm cho mọi công dân đều có cơ hội được hưởng các quyền theo Điều này. Điều 25 dựa trên cốt lõi về một chính quyền dân chủ mà tổ chức và hoạt động dựa trên cơ sở đồng thuận của nhân dân và phù hợp với các nguyên tắc của Công ước.

Không giống với nhiều quyền và tự do khác được Công ước công nhận (các quyền và tự do được bảo đảm cho mọi cá nhân trong phạm vi lãnh thổ và thuộc quyền tài phán của quốc gia thành viên), Điều 25 bảo vệ các quyền của riêng các “công dân” của quốc gia  đó. Công ước không cho phép có sự phân biệt nào giữa các công dân trong việc hưởng những quyền này vì lý do chủng tộc, sắc tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, sở hữu, thành phần xuất thân hay địa vị khác. Sự phân biệt giữa những người được hưởng tư cách công dân mà căn cứ vào thành phần xuất thân và việc nhập quốc tịch là trái với Điều 25.

4. Các quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013

Hiến pháp năm 2013 ra đời trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với kết quả tổng kết thực tiễn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992; nhằm thể chế hóa hơn, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao chủ quyền nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo tất cả các quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Hiến pháp năm 2013 ra đời trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên thì Hiến pháp năm 2013 đã quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về các quyền chính trị của công dân như:

Về quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia công việc quản lý nhà nước và xã hội: Các quyền này được quy định tại Điều 27, 28, 29 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân. Theo Điều 6, Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện.

Về quyền tự do ngôn luận, báo chí; quyền tiếp cận thông tin: Theo Điều 25 Hiến pháp năm 2013, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin. Nếu như Hiến pháp 1992 chỉ quy định “Công dân có quyền được thông tin” (Điều 69), thì Hiến pháp năm 2013 tại Điều 25 đã thay chữ “được thông tin” bằng cụm từ “tiếp cận thông tin”. Nhờ quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin, cả về các quyền thực định cũng như về hoạt động tư pháp, để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật.
Về quyền tự do hội họp, lập hội, biểu tình: Quyền này được quy định tại Điều 25, Hiến pháp năm 2013.

Về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo: Điều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. 

Về quyền bình đẳng của các dân tộc: Theo Điều 5, Hiến pháp năm 2013 “các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Điều 42 Hiến pháp năm 2013 đã quy định một quyền mới là: Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp.

5. Thực hiện pháp luật quốc tế về quyền chính trị của công dân ở Việt Nam

Trong gần 40 năm kể từ ngày gia nhập ICCPR (năm 1982), Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể nhằm bảo đảm các quyền chính trị cơ bản của công dân được tôn trọng và thực thi trong thực tiễn, thể hiện rõ nét ở việc nội luật hóa các quy định của Công ước trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

5.1. Về quyền tự do ngôn luận:

Tự do ngôn luận đã được xem là quyền hiến định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946 (Điều 10). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” (Điều 25). Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 xác định rõ quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; cùng với Luật Xuất bản năm 2012 khẳng định nguyên tắc không có kiểm duyệt trước khi in, đăng, phát sóng. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nêu rõ trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước đối với công dân thông qua Cổng thông tin điện tử của cơ quan, các phương tiện truyền thông, các hình thức khác và cung cấp thông tin theo yêu cầu. Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định hình phạt đối với các tội “xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân” (Điều 167).

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam cũng ngày càng được bảo đảm tốt hơn nhờ sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của các phương tiện thông tin đại chúng. Tính đến tháng 6-2018, cả nước có 60 nhà xuất bản, 857 cơ quan báo in, 195 cơ quan báo và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, 01 hãng thông tấn. Người dân Việt Nam được tiếp cận với 58 kênh truyền hình nước ngoài. Tính đến tháng 12-2017, số người dùng internet ở Việt Nam là khoảng 50 triệu người, chiếm 54% dân số, với 58 triệu tài khoản Facebook. Các cuộc tranh luận, chất vấn, phản biện chủ trương, chính sách tại Quốc hội, các cuộc tọa đàm, các thông tin đa chiều trên phương tiện thông tin đại chúng về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, với sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị, xã hội và người dân chính là biểu hiện sinh động của tự do ngôn luận trong thực tiễn đời sống của người dân Việt Nam.

Tuy nhiên, sự bùng nổ của internet và mạng xã hội đã và đang đặt ra nhiều thách thức về xã hội và pháp lý, trong đó có vấn đề kiểm soát thông tin và đấu tranh phòng, chống lạm dụng, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, nhất là khi các thế lực phản động, thù địch trong và ngoài nước luôn tìm cách lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước, đe dọa an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Gần đây nhất, trong khi Nhà nước nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi dịch bệnh Covid-19, có những kẻ lợi dụng dịch bệnh tuyên truyền thông tin sai lệch, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Nhiều đối tượng tung tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, từ đó trục lợi bất chính. Thông tin thất thiệt đã khiến người dân lo sợ, đổ xô đi mua khẩu trang, lương thực tích trữ, dẫn đến tình trạng găm hàng, thổi giá. Các tiểu thương lợi dụng cơ hội làm giàu trên chính nỗi sợ của cộng đồng. Những hành vi như thế không thể dùng tự do ngôn luận để biện hộ.

Rõ ràng, trong cuộc đấu tranh phòng, chống lạm dụng, lợi dụng tự do ngôn luận trên mạng xã hội cần tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác và trách nhiệm của người sử dụng mạng; đồng thời, điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật, chính sách giúp quản lý hiệu quả và giải quyết các vấn đề mới đặt ra. Các cơ quan chức năng cần kịp thời minh bạch thông tin, không để các thế lực thù địch lợi dụng đưa tin xấu độc, kịp thời phát hiện và ngăn chặn tin giả, có các giải pháp kỹ thuật trong quản lý truyền thông mạng xã hội. Bên cạnh đó, khuyến khích phát triển mạng xã hội có nền tảng công nghệ trong nước; phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội từ nước ngoài như Facebook, Google, Twitter, Youtube để kịp thời ngăn chặn, xử lý, loại trừ những nguy cơ, hiểm họa.

5.2. Về quyền tự do hội họp, lập hội:

Ở Việt Nam, quyền tự do hội họp, lập hội được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản luật và dưới luật. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21-4-2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập hội, bảo đảm quyền lập hội của công dân. Tính đến năm 2017, Việt Nam có 68.125 hội, gồm nhiều tổ chức, hiệp hội của thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật, các hội từ thiện, tổ chức khoa học, nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ. Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định hình phạt với tội “xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân” (Điều 163). Tuy nhiên, vấn đề xây dựng và ban hành Luật về Hội vẫn đang được đặt ra nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tự do hội họp và lập hội của người dân.

Trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội, các quan hệ và lợi ích xã hội ở nước ta cũng trở nên đa chiều, phức tạp hơn, nhiều xung đột xã hội mới đã phát sinh, nổi bật là các tranh chấp liên quan đến đất đai, môi trường, dẫn đến việc biểu tình, khiếu nại đòi quyền lợi... Cần nhìn nhận biểu tình, khiếu nại đông người là thực tế khách quan của phát triển xã hội. Quyền biểu tình là một hình thức bày tỏ những nhu cầu căn bản và quan điểm của người dân, cần được tôn trọng, bảo vệ. Do đó, Nhà nước cần nghiên cứu và ban hành luật để điều chỉnh, bảo vệ quyền biểu tình. Đương nhiên, pháp luật về biểu tình không được để các thế lực thù địch và các phần tử xấu lợi dụng hòng chống phá, gây rối xã hội.

5.3. Về quyền tham gia chính trị:

Quyền của công dân về tham gia đời sống chính trị đã được ghi nhận và bảo đảm ngày càng tốt hơn bởi hệ thống pháp luật Việt Nam. Khoản 1 Điều 28 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước”. Công dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua những hình thức như: tham gia xây dựng chính quyền (thực hiện quyền bầu cử, ứng cử), tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, góp ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân; hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp), Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội mà mình là thành viên.

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007; Luật Khiếu nại 2011; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015; Luật Tố cáo năm 2018... là các cơ sở pháp lý quan trọng để người dân thực hiện quyền tham gia vào đời sống chính trị đất nước. Nhà nước cũng mở rộng đối thoại giữa chính quyền địa phương với người dân thông qua gặp gỡ trực tiếp hoặc trực tuyến; thực hiện chương trình “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời”; “Dân hỏi lãnh đạo trả lời”. Đó chính là những hình thức hết sức cụ thể của quyền tham gia chính trị của công dân tại Việt Nam.

Có thể nói, những nỗ lực bảo đảm quyền chính trị của công dân ở Việt Nam những năm qua đã đạt được những bước tiến rất đáng ghi nhận. Mặc dù vậy, thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và hiện thực hóa, trong đó có việc hoàn thiện hành lang pháp lý về quyền tự do hội họp, lập hội, quyền biểu tình, thực hiện dân chủ và phát huy tính tích cực chính trị của công dân trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội, nhất là trong bối cảnh các thế lực thù địch, phản động không ngừng lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng và Nhà nước ta.