1. Hành vi làm giàu bất hợp pháp theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng

Điều 20 Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (Công ước) quy định:“Trên cơ sở tuân thủ hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nước mình, mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết khác nhằm quy định là tội phạm, nếu được thực hiện một cách cố ý, hành vi làm giàu bất hợp pháp, nghĩa là việc tài sản của một công chức tăng lên đáng kể so với thu nhập hợp pháp của công chức mà công chức này không giải thích được một cách hợp lý về lý do tăng đáng kể”. Như vậy, Công ước đặt ra yêu cầu mang tính khuyến nghị đối với quốc gia thành viên trong việc hình sự hóa hành vi làm giàu bất chính, với các dấu hiệu pháp lý cơ bản sau:

2. Về khách thể của hành vi làm giàu bất hợp pháp

Tương tự như các tội phạm tham nhũng khác, khách thể của tội làm giàu bất chính là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Theo đó, công chức có nghĩa vụ thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ của mình do pháp luật quy định trong hoạt động công vụ nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng của cơ quan, tổ chức đó. Thông thường, khách thể của tội làm giàu bất chính nói riêng và tội phạm tham nhũng nói chung được quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực về tổ chức bộ máy nhà nước, chế độ công chức, công vụ và quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực. Đối với tội phạm này, công chức đã có được tài sản mà bản thân họ không đưa ra được bằng chứng về nguồn gốc hợp pháp của những tài sản đóNhư vậy, người có hành vi phạm tội đã xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức để có được những tài sản, thu nhập không có nguồn gốc hợp pháp.

3. Về mặt khách quan của hành vi làm giàu bất hợp pháp

Mặt khách quan của tội phạm chủ yếu được thể hiện qua hành vi, hậu quả, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội... Trong trường hợp này cần làm rõ một số yếu tố trong mặt khách quan của tội phạm.

Một là, tài sản tăng lên đáng kể là tài sản bất hợp pháp vì bản thân công chức là chủ sở hữu, người đang thực tế quản lý, chiếm hữu tài sản cũng không đưa ra được bằng chứng về căn cứ xác lập quyền sở hữu, không đưa ra được lý do tăng lên đáng kể của tài sản hoặc đưa ra những bằng chứng giả dối, không xác thực về điều đó. 

Hai là, tính bất hợp pháp của tài sản tăng thêm còn thể hiện qua việc so sánh, đối chiếu giữa giá trị tăng thêm của tài sản với tất cả các nguồn thu hợp pháp của người có tài sản tăng thêm, cho thấy tài sản tăng thêm không thể có được từ những nguồn thu hợp pháp của công chức. 

Ba là, từ các dấu hiệu phân tích trên về mặt khách quan cho thấy, chủ thể của tội phạm đã có những hành vi trái pháp luật để có được tài sản, thu nhập hoặc tài sản tăng thêm một cách bất hợp pháp.

Như vậy, các dấu hiệu về tính bất hợp pháp của tài sản tăng thêm của công chức là yếu tố quan trọng, là xuất phát điểm để chứng minh về hành vi làm giàu bất chính và xác định thời điểm hoàn thành của hành vi này. Do đó, về mặt khách quan cần phải làm rõ khi chứng minh được về tính bất hợp pháp của tài sản tăng thêm, thì hành vi làm giàu bất chính cũng đã hoàn thành mà không phải chứng minh có hay không có việc công chức đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật để có được tài sản tăng thêm đáng kể ấy. Đây có thể được coi là điểm mấu chốt trong cấu thành tội phạm làm giàu bất chính và cũng là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi trong quá trình soạn thảo, cũng như thực thi Công ước đến thời điểm hiện tại ở cả khía cạnh lập pháp và thực tiễn áp dụng.

Ngoài các yếu tố phân tích ở trên, trong mặt khách quan của hành vi làm giàu bất chính còn đặt ra một số vấn đề khác như việc xác định thời gian làm căn cứ đánh giá về tài sản tăng thêm của công chức (trong thời gian làm việc cho các cơ quan nhà nước hay kéo dài hơn); căn cứ so sánh, đối chiếu và xác định có tài sản tăng thêm (thu nhập hợp pháp hay lương, thưởng, phụ cấp hợp pháp và hiểu thể nào là thu nhập hợp pháp); hạn mức tăng lên của tài sản thì được coi là tăng đáng kể. Tuy nhiên, Điều 20 Công ước chưa đề cập cụ thể đến những vấn đề này mà để các quốc gia thành viên tiếp tục nghiên cứu, xem xét và đưa ra giải pháp cho phù hợp nhất với hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật, cũng như với năng lực của bộ máy cơ quan thực thi pháp luật.

4. Về mặt chủ quan của hành vi làm giàu bất hợp pháp

Theo quy định tại Điều 20 Công ước, yêu cầu về mặt chủ quan của tội này là người phạm tội phải thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý (lỗi cố ý trực tiếp) và đương nhiên là có yếu tố vụ lợi (được lợi về tài sản). Lỗi cố ý trực tiếp được phản ánh qua việc người phạm tội biết được việc có tài sản tăng thêm không được xác lập trên các căn cứ theo quy định của pháp luật và biết hành vi làm giàu đó là bất chính, bị pháp luật cấm, nhưng họ vẫn thực hiện. Đồng thời, người phạm tội cũng sẽ dùng nhiều bằng chứng khác nhau, kể cả là bằng chứng giả mạo hoặc các phương thức khác để chứng tỏ về tính hợp pháp của tài sản tăng thêm. Vì vậy, một trong những yếu tố quan trọng đối với pháp luật quốc gia thành viên là quy định rõ căn cứ xác lập quyền sở hữu và các loại tài sản, thu nhập được coi là tài sản, thu nhập hợp pháp để làm căn cứ cho các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, làm rõ, cũng như chứng minh về tính bất hợp pháp, tính trái pháp luật đối với tài sản tăng thêm của công chức. Đây cũng sẽ là những chứng cứ để đánh giá về tính bất hợp lý trong giải thích của công chức về lý do tăng đáng kể của tài sản.

5. Về chủ thể của hành vi làm giàu bất hợp pháp

Chủ thể tội phạm này là công chức quốc gia và theo quy định tại Điều 2 Công ước, thì công chức được định nghĩa bao gồm: bất kỳ người nào làm việc trong các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp thuộc bộ máy nhà nước, do bầu cử hoặc bổ nhiệm, làm việc không thời hạn hoặc có thời hạn, được trả lương hay không được trả lương và không phân biệt chức vụ; bất kỳ người nào thực hiện công vụ, bất kể là cho cơ quan nhà nước, doanh nghiệp công hoặc cung cấp dịch vụ công theo quy định của pháp luật và được áp dụng trong các lĩnh vực pháp luật cụ thể của quốc gia thành viên; hoặc bất kỳ người nào được quy định là công chức theo pháp luật quốc gia.

6. Pháp luật Việt Nam liên quan đến xử lý hành vi làm giàu bất chính và tài sản bất chính

Pháp luật hình sự hiện hành của nước ta chưa quy định là tội phạm đối với hành vi làm giàu bất chính. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 (Luật PCTN) cũng đã bước đầu quy định và đặt nền móng cho việc xử lý đối với hành vi làm giàu bất chính. Theo quy định của Luật này, khi có căn cứ cho rằng việc giải trình về nguồn gốc tài sản tăng thêm không hợp lý, thì người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức có nghĩa vụ kê khai tài sản ra quyết định xác minh tài sản. Trên cơ sở kết quả xác minh tài sản, thu nhập, thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập. Tại Điều 52, Luật PCTN quy định người kê khai tài sản không trung thực bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật và đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân mà kê khai không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử; người dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn mà kê khai không trung thực thi không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào các chức vụ đã dự kiến.

Căn cứ vào Luật PCTN, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 về minh bạch tài sản, thu nhập với một số quy định chi tiết hơn về nghĩa vụ giải trình nguồn gốc phần tài sản tăng thêm và các hình thức xử lý đối với người kê khai không trung thực. Theo Nghị định này, người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình về nguồn gốc phần tài sản tăng thêm khi tăng về số lượng hoặc thay đổi về cấp nhà, công trình, loại đất (bất động sản) hoặc khi có tài sản ở nước ngoài, động sản, tiền tăng thêm có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên so với kỳ kê khai trước đó. Nghị định cũng quy định về trình tự, thủ tục xác minh tài sản, thu nhập, bao gồm cả việc xác minh tại chỗ đối với tài sản, thu nhập; làm việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, lưu trữ hồ sơ, tài liệu về tài sản, thu nhập được xác minh; làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn - kỹ thuật về tài sản, thu nhập được xác minh để đánh giá, giám định tài sản, thu nhập đó... Căn cứ vào kết quả xác minh, người có nghĩa vụ kê khai có thể bị áp dụng các hình thức kỷ luật nếu kê khai tài sản, thu nhập hoặc giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm không trung thực. Cụ thể như sau: đối với cán bộ áp dụng một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm; đối với công chức áp dụng một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức; đối với viên chức áp dụng một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức.

7. Một số lĩnh vực tham nhũng điển hình

Như Nghị quyết trung ương 3 khóa X đã nhận định, tham nhũng ở Việt Nam diễn ra trong nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rất rộng. Tuy nhiên, mức độ tham nhũng trong từng lĩnh vực không đồng đều nhau; có một số lĩnh vực tham nhũng xảy ra phổ biến như:

-   Lĩnh vực đầu tư, xây dựng cơ bản. Các hành vi tham nhũng xảy ra trong lĩnh vực đầu tư cơ bản thường là: lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; nhận hối lộ; tham ô tài sản; cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng với nhiều mức độ khác nhau, diễn ra hỗn hợp, nối tiếp nhau, sai phạm này kéo theo sai phạm khác và xảy ra ở tất cả các khâu, các giai đoạn từ khâu lập và duyệt dự án, khảo sát, thiết kế, duyệt kế hoạch vốn, đấu thầu, tư vấn giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán công trình... Tỷ lệ thất thoát tài sản của Nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trung bình là từ 10 đến 20%, cá biệt có cộng trình lên đến trên 30%, chẳng hạn như vụ Lê Văn Chuyên và đồng phạm thi công trường tiểu học Tân Hội A đã “rút ruột” công trình đến 45% nguyên vật liệu. Hậu quả là nhiều công trình xây đựng chất lượng kém, thậm chí chưa nghiệm thu đã hư hỏng, chưa đưa vào sử dụng hoặc vừa đưa vào sử dụng đã xuống cấp, đe dọa tính mạng sức khỏe người dân.

- Lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. Trong nền kinh tế thị trường, đất là loại tài sản có giá trị đặc biệt lớn, “tấc đất tất vàng” kích thích lòng tham và tính vụ lợi của con người, nhất là những người có nhiều khả năng và điều kiện thực hiện hành vi tham nhũng trong lĩnh vực đất đai. Thực trạng quản lý nhà nước đối với đất đai ở nước ta còn nhiều hạn chế, yếu kém, hệ thống pháp luật đất đai còn chưa hoàn chỉnh, việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này trong nhiều trường hợp còn buông lỏng ở các địa phương và không nghiêm trên phạm vi toàn quốc. Tuy có mức độ vi phạm khác nhau, nhưng không chỉ đất đai ở đô thị mà ngay cả đất đai ở nông thôn cũng bị lấn chiếm, cấp, mua bán, chuyển nhượng tùy tiện và khó quản lý, gây thất thoát nghiêm trọng tài sản quốc gia về đất, giá trị đất cũng như thuế chuyển quyền sử dụng đất, phá vỡ quy hoạch tổng thể của nền kinh tế.

- Lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Đây cũng là lĩnh vực diễn ra nhiều sai phạm với các hành vi tham nhũng phổ biến như tham ô, cố ý làm trái, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, nhận hối lộ... Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, nhân viên các ngân hàng thương mại thoái hóa, biến chất được các doanh nghiệp móc nối, hối lộ đã cho vay sai nguyên tắc, vượt quá khả năng thanh toán, thông đồng với đối tượng vay nhận hồ sơ thế chấp không hợp lệ, hồ sơ giả, nâng khống giá trị tài sản thế chấp để vay tiền, dẫn đến hàng nghìn tỷ đồng của Nhà nước bị thất thoát. Có một số cán bộ ngân hàng, kho bạc, quỹ tín dụng lợi dụng nhiệm vụ được giao như quản lý kho, quỹ vay tiền ngân hàng để mua chứng khoán hoặc cho vay lại với lãi suất cao hơn, khi bị thua lỗ, lừa đảo mất khả năng trả nợ, gây thiệt hại lớn. Xuất hiện nhiều loại tội phạm tham nhũng mới với tính chất hết sức nghiêm trọng như tham ô, cố ý làm trái và lừa đảo qua mạng hay các tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán (như sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán - giao dịch nội gián hay thao túng giá chứng khoán...).

- Một số lĩnh vực khác như quản lý cấp phát ngân sách nhà nước, quản lý xuất nhập khẩu, giáo dục, y tế, gây phiền nhiễu trong giải quyết công việc hành chính công. Hành vi tham nhũng trong các lĩnh vực này đa dạng, song thủ đoạn chính là thông đồng, móc ngoặc giữa các đối tượng trong và ngoài Nhà nước để gửi giá, thông thầu, nâng giá nhập khẩu máy móc, thiết bị nhằm chiếm đoạt tiền chệnh lệch, lợi dụng chính sách phát triển kinh tế vùng, hỗ trợ đồng bào khó khăn để ra quyết định trái pháp luật rút tiền của Nhà nước.

Sự đa dạng của các lĩnh vực nói trên cho thấy tính phổ biến và tính đặc thù của những hành vi tham nhũng ở Việt Nam, một đất nước đang phát triển mở rộng mô hình nền kinh tế thị trường và tích cực hội nhập quốc tế. Để đấu tranh có hiệu quả với nạn tham nhũng, bên cạnh những nỗ lực quốc gia, Việt Nam cần có sự hỗ trợ và hợp tác với các nước khác trong khu vực và thế giới trong một cơ chế đa phương được tạo ra bởi Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc năm 2003.