1. Những thỏa thuận thương mại khu vực và WTO

Người ta thường lập luận rằng chủ nghĩa khu vực là mối đe doạ đến hệ thống thương mại đa phương thực sự, rằng quyền lợi của không của bên nào (non-parties) sẽ đồng thời xói mòn khi các rào cản thương mại giữa các bên trong các hiệp định thương mại khu vực (RTAs) bị huỷ bỏ.

Những kinh nghiệm của hơn 40 năm qua trong việc hội nhập khu vực ở châu Âu đã chứng minh ngược lại rằng việc tự do hoá hơn nữa giữa các đối tác thương mại khu vực không chỉ có lợi cho các thành viên trong những thoả thuận khu vực như vậy, mà còn làm tăng các cơ hội kinh doanh của các bên thứ ba, do đó bổ sung cho tự do hoá trong hệ thống thương mại đa phương. Đa số các nước hoạt động thương mại chủ yếu ngày nay đều là thành viên trong một hay nhiều hiệp định thương mại khu vực. Họ còn cam kết đầy đủ tự do hoá thương mại hơn nữa trên cơ sở toàn cầu cũng như làm cho các quy tắc thương mại đa phương có hiệu lực.

2. Điều XXIV của GATT

Các quy định của Hiệp định này áp dụng với lãnh thổ quan thuế chính quốc của các bên ký kết cũng như với mọi lãnh thổ quan thuế mà theo điều khoản XXVI của Hiệp định này và theo tinh thần của điều XXXIII hoặc chiểu theo Nghị định thư về việc Tạm thời thi hành (Hiệp định GATT). Mỗi lãnh thổ quan thuế sẽ được coi là một bên ký kết, chỉ thuần tuý nhằm mục đích thực thi Hiệp định này theo lãnh thổ, với bảo lưu rằng các quy định của Hiệp định này không được hiểu là tạo ra với một bên ký kết đơn lẻ nào quyền hay nghĩa vụ như giữa hai hay nhiều lãnh thổ quan thuế đã chấp nhận hiệu lực của Hiệp định này theo tinh thần của điều khoản XXVI hoặc áp dụng theo tinh thần điều khoản XXXIII hay phù hợp với Nghị định thư về việc Tạm thời áp dụng.

Các quy định của Hiệp định này không thể được hiểu là ngăn cản:

- một bên ký kết dành lợi thế cho các nước có chung đường biên giới nhằm tạo thuận lợi cho trao đổi vùng biên giới;

- các nước lân cận với Lãnh thổ Tự do vùng Triesta dành cho vùng này những lợi thế thương mại, với điều kiện là không trái với các quy định tại các hiệp ước hoà bình được ký sau Thế Chiến II.

Nhằm mục đích áp dụng Hiệp định này, thuật ngữ lãnh thổ quan thuế được hiểu là bất cứ lãnh thổ nào có áp dụng một biểu thuế quan riêng biệt, hoặc có những quy chế thương mại riêng biệt được áp dụng với một phần đáng kể trong thương mại với các lãnh thổ khác.

Các bên ký kết thừa nhận lòng mong muốn thương mại được tự do hơn, thông qua các hiệp định được ký kết tự nguyện, nhờ đó phát triển sự hội nhập hơn nữa kinh tế các nước tham gia các hiệp định đó. Các Bên cũng thừa nhận rằng việc lập ra một liên minh quan thuế hay một khu vực mậu dịch tự do phải nhằm mục tiêu là tạo thuận lợi cho thương mại giữa các lãnh thổ thành viên và không tạo thêm trở ngại cho thương mại của các thành viên khác với các lãnh thổ này.

Do vậy, các quy định của Hiệp định này không gây trở ngại cho việc thành lập một liên minh quan thuế hay khu vực mậu dịch tự do hay chấp nhận một hiệp định tạm thời cần thiết để lập ra một liên minh quan thuế hay khu vực mậu dịch tự do giữa các lãnh thổ thành viên, với bảo lưu rằng:

- trong trường hợp một liên minh quan thuế hay một hiệp định tạm thời nhằm lập ra một liên minh quan thuế, thuế quan áp dụng khi lập ra liên minh quan thuế hay khi ký kết hiệp định tạm thời xét về tổng thể không dẫn tới mức thuế cao hơn cũng không tạo ra những quy tắc chặt chẽ hơn so với mức thuế hay quy tắc có hiệu lực vào thời điểm trước khi lập ra liên minh hay hiệp định được ký kết, tại các lãnh thổ tạo thành liên minh dành cho thương mại với các bên ký kết không phải là thành viên của liên minh hay không tham gia hiệp định.

- trong trường hợp lập ra một khu vực mậu dịch tự do hay một hiệp định tạm thời nhằm lập ra một khu vực mậu dịch tự do, thuế quan duy trì tại mỗi lãnh thổ thành viên và được áp dụng với thương mại của các bên ký kết không tham gia khu vực mậu dịch hay hiệp định đó, vào thời điểm khu vực mậu dịch hay ký kết hiệp định sẽ không cao hơn, cũng như các quy tắc điều chỉnh thương mại cũng không chặt chẽ hơn mức thuế quan hay quy tắc tương ứng hiện hành tại mỗi lãnh thổ thành viên trước khi lập ra khu vực mậu dịch hay ký hiệp định tạm thời, tuỳ theo từng trường hợp; và

- mọi hiệp định tạm thời nói đến tại các điểm a) và b) phải bao gồm một kế hoạch và một chương trình thành lập liên minh quan thuế hay khu vực mậu dịch tự do trong một thời hạn hợp lý.

Nếu khi đáp ứng các điều kiện nêu tại điểm 5a), một bên ký kết đề nghị nâng mức thuế một cách không phù hợp với các quy định của điều II, thủ tục đã được dự kiến tại điều XVIII sẽ được áp dụng. Việc điều chỉnh cân đối tính đúng mức đến sự bù đắp có được do mức giảm thuế tương ứng với thuế quan của các lãnh thổ khác tham gia liên minh.

Khi quyết định tham gia một liên minh quan thuế hay một khu vực mậu dịch tự do hay một hiệp định tạm thời được ký nhằm lập ra một liên minh hay một khu vực mậu dịch như vậy, bất kỳ bên ký kết nào cũng sẽ thông báo không chậm trễ cho Các Bên Ký Kết biết và cung cấp mọi thông tin cần thiết về liên minh hoặc khu vực mậu dịch để Các Bên có thể có báo cáo hay khuyến nghị cần thiết tới các bên ký kết nêú Các Bên thấy cần thiết.

Nếu sau khi nghiên cứu kế hoạch và chương trình thuộc hiệp định tạm thời đã nêu tại khoản 5, có tham vấn với các bên tham gia hiệp định này và sau khi cân nhắc đúng mức đến các thông tin đã được cung cấp theo quy định tại điểm a), Các Bên Ký Kết đi đến kết luận là hiệp định không thuộc loại dẫn đến thành lập một liên minh quan thuế hay một khu vực mậu dịch tự do trong thời hạn đã được các bên dự liệu hay thời hạn được các bên ký kết hiệp định dự tính là không hợp lý, Các Bên sẽ có khuyến nghị với các bên tham gia hiệp định. Nếu không sắn sàng điều chỉnh cho phù hợp với các khuyến nghị đó, các bên tham gia hiệp định sẽ không duy trì hiệp định hoặc không triển khai hiệp định nữa.

Bất kỳ sự điều chỉnh đáng kể nào trong kế hoạch hay chương trình đã nêu tại điểm c) của khoản 5 phải được thông báo cho Các Bên Ký Kết, Các Bên có thể yêu cầu các bên ký kết liên quan tham vấn, khi sự điều chỉnh thể hiện khả năng thoả hiệp hay làm chậm trễ không chính đáng sự hình thành liên minh quan thuế hay khu vực mậu dịch tự do.

3. Phân tích Điều XXIV của GATT

Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) bảo đảm rằng các cam kết đưa ra trong quá trình của các vòng đàm phán thương mại được thống nhất áp dụng giữa thành viên này với các thành viên khác của WTO. Trong đoạn 2 Điều 1 của GATT miễn trừ đói xử tối huệ quốc trong một số thoả thuận ưu đãi vốn được thi hành tại thời gian GATT hình thành. Điều khoản then chốt của GATT cho phép miễn trừ đối vói câc liên minh thuế quan và FTAs chính là Điều XXIV. Điều khoản này định nghĩa những đặc điểm của các hiệp định ưu đãi, đặt ra các tiêu chí và bao gồm các yêu cầu minh bạch đối với những hiệp định đã đề nghị, cần lưu ý đặc biệt để tránh những tác động ngược về thương mại với các nước thứ ba, chẳng hạn trong trường họp các nước thành viên của liên minh thuế quan muốn tăng thuế khi chấp nhận biểu thuế đối ngoại chung. Điều XXIV cũng quy định các hiệp định tạm thời, cho phép các bên của liên minh thuế quan hoặc FTAs thực hiện mục tiêu tối hậu của những hiệp định như vậy — túc là, hoặc liên minh thuế quan đầy đủ hoặc thương mại tự do - trong một thời hạn họp lý, để việc điều chỉnh là khả thi và có thể chấp nhận được về chính trị. Bản ghi nhớ của Vòng Uruguay về việc diễn giải Điều XXIV khuyến nghị rằng thời hạn cho các hiệp định tạm thời sẽ không vượt quá 10 năm.

Để phù hợp với đoạn 8 của Điều XXIV, các bên của liên minh thuế quan và khu vực thương mại tự do phải loại bỏ thuế nhập khẩu và các quy định hạn chế thương mại khác liên quan đến “phần chủ yếu trong toàn bộ thương mại” giữa các lãnh thổ thuế quan hợp thành. Trong khi diễn giải các định nghĩa then chốt trong Điều XXIV như “phần chủ yếu trong toàn bộ thương mại” và “các quy định thương mại khác” còn là điểm bất đồng trong GATT thì chắc chắn có thể kết luận rằng Điều XXIV đem lại một yếu to niềm dẻo liên quan đến sản phẩm, ngành hay phạm vi thương mại của hiệp định. Ngoài ra, các bên tham gia hiệp định có thể duy trì một số nghĩa vụ hoặc hạn chế khác theo các điều khoản sau đây của GATT: Điều XI (Loại trừ chung về Hạn chế Số lượng), Điều XII (Những hạn chế đói vói việc bảo vệ cán cân thanh toán), Điều XIII (Quản lý Không phân biệt đối xử về Hạn chế So lượng), Điều XIV (Những Ngoại lệ đối với Quy tắc Không phân biệt đối xử), Điều XV (Các Thoả thuận về Ngoại hối) và Điều XX (Các Ngoại lệ chung).

4. Điều kiên ưu đãi thương mại

Tất cả thành viên WTO quyết định tham gia liên minh thuế quan hay khu vực mậu dịch tự do, hoặc một hiệp định tạm thời dẫn đến việc thành lập một liên minh hoặc một khu vực như vậy, họ buộc phải thông báo “ngay lập tức” cho các thành viên khác của WTO. RTAs đưa ra các điều kiện ưu đãi thương mại giữa các bên, có thể và thường được ký kết giữa các bên không phải là thành viên của WTO. Trong những năm 90, cắc hiệp định thương mại khu vực tăng nhanh, và được minh hoạ bằng phần sưu tập các RTAs trong phụ lục kèm theo. Các hiệp định đã thông báo theo Điều XXIV của GATT còn lệ thuộc vào việc khảo sát kỹ lưỡng mà hiện nay được thực hiện dưới hình thức kiểm tra trong uỷ ban Hiệp định Thương mại Khu vực (CRTA). Như giải thích cụ thể ở phần sau, việc cải tiến thông báo, tính minh bạch và câc thủ tục giấm sát hiện thời còn lệ thuộc vào sự đế tranh luận trong CRTA, nhưng một vài bước đi đã được thực hiện theo hướng này: các bên cho rằng phải thông báo hiệp định nhanh chóng và cung cấp các thông tin cơ bản về hiệp định theo một khuôn mẫu tiêu chuẩn đã thoả thuận.

5. Kết thúc vấn đề

Thực tế, trong quá khứ chứng minh rằng việc kiểm tra các khu vực thương mại tự do thường không dẫn đến sự đồng thuận về tính nhất quán của hiệp định vói các quy tắc liên quan của GATT/WTO; chỉ trong một vài trường hợp ngoại lệ thấy các hiệp định phù hợp với Điều XXIV. Thường thường sự bất đồng ý kiến liên quan đến mức độ bao quất của hiệp định (“phần chủ yếu trong toàn bộ thương mại”), đặc biệt khi hiệp định loại trừ hoặc chỉ bao gồm một số ngành nhất định, phổ biến nhất là nông nghiệp.

Mặt khác, việc kiểm tra của liên minh thuế quan thường tập trung vào cấc điều khoản của hiệp định lẫn câc yêu cầu đền bù có thể xảy ra của các bên không tham gia hiệp định liên minh thuế quan do tăng thuế suất ràng buộc trong GATT phát sinh từ việc đưa ra biểu thuế đối ngoại chung. Bản ghi nhớ của Vòng Uruguay liên quan đến Điều XXIV làm rõ một so khía cạch liên quan đến việc hình thành liên minh thuế quan như đã quy định trong khoản 5 và 6 của Điều XXIV, cũng như tính minh bạch trong mối quan hệ với các điều khoản giải quyết tranh chấp. Nó cũng làm rõ hơn nữa quá trình đàm phán bồi thường có liên quan đến việc sửa đổi lịch trình trong đoạn 5 của Điều XXIV.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.