1. Phân tích số lượng và chất lượng xét xử

của ngành tòa án nhân dân

Số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án của ngành Tòa án nhân dân nói chung và của các cấp Tòa án nói riêng chính là thước đo quan trọng bậc nhất để xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành và của từng Tòa án, từng cán bộ, Thẩm phán, Hội thẩm Tòa án.

Căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ của năm trước, dự báo tình hình, nhiệm vụ của năm tiếp theo và các điều kiện đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, hàng năm Hội nghị tổng kết và triển khai công tác của ngành đều bàn bạc và thống nhất đưa ra các chỉ tiêu công tác, trong đó có chỉ tiêu về công tác xét xử, giải quyết các loại vụ án. Chỉ tiêu về số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) của các vụ án đã giải quyết trên tổng số các vụ án phải giải quyết. Trên cơ sở các chỉ tiêu công tác do Tòa án nhân dân tối cao ban hành, các Tòa án đều phải quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện trong toàn đơn vị. Kết quả thực hiện trong từng thời điểm thống kê, báo cáo được tổng hợp từ Tòa án nhân dân cấp huyện đến Tòa án nhân dân cấp tnh và thống kê, tổng hợp chung của toàn ngành tại Tòa án nhân dân tối cao.

Các số liệu thống kê được phân tích, đánh giá để có thể vẽ ra một bức tranh toàn cảnh về công tác giải quyết, xét xử của toàn ngành Tòa án nhân dân trong quý, 9 tháng, một năm. Từ những số liệu này có thể nhận biết được những điểm mạnh, những điểm yếu kém, tồn tại trong công tác giải quyết, xét xử chung của toàn ngành, hơn thế còn có thể đánh giá được việc giải quyết, xét xử từng loại vụ án, từng loại tội, từng loại tranh chấp hay việc dân sự. Trên cơ sở các số liệu đó, lãnh đạo ngành Tòa án nhân dân, lãnh đạo các Tòa án nhân dân địa phương có thể rút ra những bài học về chất lượng và quản lý, điều hành hoạt động xét xử, giải quyết các vụ án. Cũng căn cứ vào các số liệu của ngành Tòa án nhân dân, của Viện kiểm sát nhân dân, Công an nhân dân, Bộ Tư pháp, Nhà nước có thể hoạch định những chính sách, đề ra những chủ trương thích hợp nhằm đảm bảo việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực tư pháp nói riêng và toàn xã hội nói chung tốt hơn.

Như vậy, yêu cầu đặt ra là phải đảm bảo số liệu báo cáo, thống kê đầy đủ, trung thực, chính xác và kịp thời. Nhìn chung, trong những năm gần đây, do có sự quan tâm đúng mức của Lãnh đạo, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, đồng thời có sự hỗ trợ tốt của công nghệ thông tin nên các số liệu thống kê, báo cáo của ngành Tòa án nhân dân đã đầy đủ hơn, chính xác hơn, kịp thời và đáng tin cậy hơn. Tuy nhiên, việc đánh giá về số lượng, chất lượng của công tác giải quyết xét xử các loại vụ án cũng còn có những ý kiến khác nhau, cần phân tích để làm rõ. Chúng tôi xin nêu một số vấn đề như sau:

Phân tích số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án của ngành tòa án nhân dân.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

1- Về số lượng vụ án, vụ việc (sau đây xin gọi chung là vụ án)

Số lượng các vụ án phải giải quyết (tức là đã thụ lý) bao gồm cả số vụ án chưa giải quyết của các kỳ thống kê trước và số vụ án đã thụ lý trong kỳ thống kê (cũ còn lại cộng với mới thụ lý).

Số lượng các vụ án đã giải quyết là số vụ án, vụ việc các Tòa án đã giải quyết bằng các bản án, quyết định (Quyết định giải quyết vụ án, vụ việc như Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, công nhận thỏa thuận của các đương sự, trả hồ sơ vụ án, chuyển hồ sơ vụ án…).

Số lượng các vụ án đã được giải quyết, xét xử trên tổng số các vụ án phải giải quyết sẽ cho kết quả thực hiện chỉ tiêu (%).

Cách tính tỷ lệ giải quyết, xét xử nêu trên đã được thực hiện trong ngành Tòa án nhân dân nhiều năm qua và cũng phù hợp với cách tính được quy định trong Thông tư liên tịch số 05/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 12-11-2018 quy định phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiệnthống kê hình sự.

Tuy vậy, trong quá trình thực hiện cũng nảy sinh vướng mắc về số vụ án phải giải quyết còn trong thời hạn luật định, nhưng Tòa án không thể giải quyết, xét xử trong thời điểm thống kê được vì mới thụ lý, thế nhưng khi xác định tỷ lệ giải quyết, xét xử thì không tách (trừ) những vụ án đó ra, vì vậy tỷ lệ giải quyết, xét xử thấp hơn thực tế đã giải quyết, xét xử.

Ví dụ: Tòa án nhân dân huyện A, phải giải quyết 150 vụ án các loại, trong số đó có 100 vụ án cũ còn lại, mới thụ lý 50 vụ án. Đã giải quyết trong thời điểm thống kê, báo cáo 70 vụ án. Nếu tính theo phương pháp truyền thống thì tỷ lệ giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện A là: 70 vụ án : 150 vụ án = 46,6%. Nếu không tính số vụ án mới thụ lý (còn trong thời hạn giải quyết, xét xử) thì tỷ lệ giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện A là 70 vụ án : 100 vụ án = 70%.

Như vậy, nếu không tính số vụ án mới thụ lý thì tỷ lệ giải quyết, xét xử cao hơn, tưởng như mức độ hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn nhưng thực chất số vụ án còn phải giải quyết không phải chỉ là 30 vụ án (100 vụ án - 70 vụ án) mà là 30 vụ án + 50 vụ án = 80 vụ án. Điều này sẽ dẫn tới hai bất cập:

Một là: Không nắm chắc được số vụ án còn lại phải giải quyết nên ảnh hưởng đến việc quản lý, điều hành của lãnh đạo đơn vị, thậm chí còn tư tưởng chủ quan cho rằng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hai là: Công tác thống kê, báo cáo, đối chiếu số liệu giữa các cơ quan tư pháp sẽ không thống nhất, số liệu giữa các ngành không thể nào trùng khớp mỗi khi thực hiện báo cáo trước Quốc hội, Hội đồng nhân dân, hoặc các cơ quan, tổ chức khác.

Vì vậy, chúng tôi cho rằng phương pháp tính số liệu theo cách tính truyền thống mà ngành Tòa án nhân dân và các cơ quan tư pháp đang thực hiện chính xác hơn, khoa học hơn, đúng với quy định tại Thông tư liên tịch số 05/2018 về thống kê án hình sự, tội phạm.

2- Về chất lượng vụ án

Chỉ tiêu về số lượng cũng quan trọng, nhưng chỉ tiêu về chất lượng giải quyết, xét xử càng quan trọng hơn. Đây là vấn đề có tính thời sự và luôn là trọng tâm phấn đấu của từng cán bộ, Thẩm phán. Tỷ lệ các vụ án bị sửa, bị hủy được tính trên tổng số vụ án đã giải quyết chứ không phải là tính trên tổng số các vụ án có kháng cáo, kháng nghị.

Ví dụ: Tòa án nhân dân tỉnh B đã giải quyết 1000 vụ án các loại, trong số đó có 200 vụ án có kháng cáo, bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Tòa phúc thẩm đã xét xử, giải quyết 200 vụ án này, kết quả: giữ nguyên bản án sơ thẩm 150 vụ án; sửa bản án, quyết định sơ thẩm đối với 40 vụ án; hủy 10 vụ án. Số 800 vụ án không có kháng cáo, kháng nghị nhưng qua công tác giám đốc thẩm có 10 vụ án bị kháng nghị vì có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật và 10 vụ án này đã bị hủy theo quyết định giám đốc thẩm.

Như vậy tỷ lệ các vụ án bị sửa của Tòa án nhân dân tỉnh B là:

40 vụ : 1000 vụ án = 4%

Tỷ lệ các vụ án bị hủy của Tòa án nhân dân tỉnh B là:

(10 vụ án theo thủ tục phúc thẩm + 10 vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm) : 1000 vụ án = 2%.

Nếu tính trên tổng số vụ án có kháng cáo, kháng nghị thì tỷ lệ án bị sửa, bị hủy sẽ rất cao (án sửa 40 vụ án : 200 vụ án = 20% và tỷ lệ vụ án bị hủy là 20 vụ án : 200 vụ án = 10%). Cách tính này không chính xác khi đánh giá số vụ án bị sửa, bị hủy của Tòa án và dễ gây ra bức xúc dư luận về chất lượng giải quyết, xét xử của Tòa án.

Ví dụ nêu trên mới chỉ là số liệu "mộc" mà chưa phân tích, mổ xẻ để tìm ra cái lõi của việc sửa, hủy bản án, quyết định. Thực tiễn áp dụng pháp luật trong công tác giải quyết, xét xử các vụ án cho thấy rất nhiều vụ án tuy bị sửa, bị hủy nhưng Tòa án cấp dưới không có lỗi, vì việc sửa, hủy đó của Tòa án cấp trên là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, chúng ta chỉ tính số liệu các vụ án bị sửa, bị hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán và số liệu đó mới là căn cứ để đánh giá chất lượng xét xử của từng Thẩm phán, từng Tòa án và toàn ngành Tòa án nhân dân. Đây là một vấn đề rất quan trọng nên cần được xem xét, đánh giá tỷ mỉ, thận trọng để xác định chính xác lỗi chủ quan hay lỗi khách quan. Chúng tôi xin nêu một số căn cứ phân biệt như sau:

A- Đối với các vụ án hình sự

1- Về việc sửa bản án, quyết định

* Hội đồng xét xử có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị sửa:

- Xác định tội danh không chính xác dẫn tới bị sửa về tội danh và có thể bị sửa về hình phạt chính, hình phạt bổ sung;

- Xác định sai khung hình phạt dẫn tới bị sửa khung hình phạt, sửa hình phạt;

- Quyết định hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội (áp dụng hình phạt quá nặng, quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật; áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự không đúng nên quyết định hình phạt không đúng pháp luật…);

- Xác định mức độ thiệt hại không chính xác nên quyết định việc bồi thường thiệt hại (trách nhiệm dân sự) không đúng quy định của Bộ luật dân sự;

- Không quyết định về án phí hoặc tính sai về án phí;

- Không quyết định hoặc quyết định xử lý vật chứng, áp dụng các biện pháp tư pháp không đúng quy định của pháp luật.

* Hội đồng xét xử không có lỗi khi bản án, quyết định bị sửa:

- Trước hoặc trong khi xét xử phúc thẩm, bị cáo (hoặc gia đình bị cáo) tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra;

- Người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo, tự nguyện không nhận bồi thường thiệt hại (rút yêu cầu bồi thường thiệt hại) hoặc có thỏa thuận khác về mức bồi thường thiệt hại;

- Bị cáo xuất trình thêm các chứng cứ mới để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự;

- Bị cáo thành khẩn khai nhận tội phạm, ăn năn, hối cải, khai thêm các đồng phạm khác hoặc tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra về tội phạm khác.

2- Về việc hủy bản án, quyết định

* Hội đồng xét xử có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị hủy

- Giải quyết vụ án sai thẩm quyền;

- Xác định thiếu hoặc sai tư cách người tham gia tố tụng;

- Vi phạm các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các thành viên của Hội đồng xét xử. (Thành phần Hội đồng xét xử bắt buộc phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân là giáo viên, công tác Đoàn thanh niên, thành phần Hội đồng xét xử phải có 5 người…);

- Vụ án đó có bị cáo bị truy tố ở mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình hoặc bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất nhưng không có sự tham gia bào chữa của Luật sư;

- Việc thu thập chứng cứ trong vụ án không đúng quy định của pháp luật nhưng Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà vẫn đưa vụ án ra xét xử (lấy lời khai của người chưa thành niên nhưng không có mặt người đại diện hợp pháp của họ; luật sư hoặc người bào chữa không được tham gia từ giai đoạn điều tra; tài liệu trong hồ sơ bị tẩy xóa nhưng không có xác nhận của người tham gia tố tụng…);

- Đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, toàn diện, thực hiện việc xét xử tại phiên tòa không đầy đủ, không đúng quy định tố tụng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại. Ngược lại, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án;

- Tòa án không tổng hợp hình phạt của nhiều tội, nhiều bản án, tính sai thời gian chấp hành hình phạt tù, không trừ cho bị cáo thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam;

- Không quyết định về trách nhiệm dân sự, tách phần dân sự thành một vụ kiện dân sự không đúng quy định của pháp luật;

- Vi phạm các quy định về tố tụng hình sự như không tuyên quyền kháng cáo hoặc tuyên quyền kháng cáo không đúng quy định của pháp luật hình sự.

* Hội đồng xét xử không có lỗi khi bản án, quyết định bị hủy.

- Vụ án có kháng cáo, kháng nghị nhưng bị cáo chết trước khi xét xử phúc thẩm;

- Người bị hại khởi tố vụ án nhưng trước khi xét xử phúc thẩm họ rút yêu cầu khởi tố';

- Do có sự thay đổi của pháp luật;

- Do có sự thay đổi về kết quả giám định năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, sự thay đổi kết quả giám định thương tật, sức khỏe làm cho hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm…

B- Đối với các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động.

1- Về việc sửa bản án, quyết định

* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị sửa:

- áp dụng sai quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự;

- Thu thập chứng cứ, tài liệu ở Tòa án cấp dưới không đầy đủ nhưng Tòa án cấp trên đã bổ sung được nhưng thiếu sót đó;

- Tính sai lãi suất;

- Tính sai án phí;

- Xác định sai quan hệ pháp luật.

* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán không có lỗi khi bản án, quyết định bị sửa:

- Có sự thay đổi về quy định của các văn bản pháp luật, Tòa án cấp trên áp dụng văn bản quy phạm pháp luật mới để sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới;

- Đương sự thỏa thuận lại về các vấn đề có tranh chấp, Tòa án cấp trên ghi nhận thỏa thuận đó của các đương sự;

- Đương sự xuất trình thêm chứng cứ mới.

2- Về việc hủy bản án, quyết định

* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị hủy:

- Giải quyết vụ việc dân sự sai thẩm quyền;

- Xác định thiếu hoặc sai tư cách người tham gia tố tụng;

- Vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật tố tụng như xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng không đúng quy định của pháp luật; không tiến hành hòa giải đối với những vụ án bắt buộc phải hòa giải; hòa giải với những vụ án không được hòa giải; xác định sai về vụ án và vụ việc dẫn tới áp dụng sai thủ tục giải quyết; vi phạm thủ tục thụ lý hoặc ban hành văn bản tố tụng (ví dụ: không giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự, thụ lý đơn khởi kiện không đúng thẩm quyền như người khởi kiện không có quyền khởi kiện, người đại diện không có tư cách đại diện…); vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử…;

- Việc chứng minh và thu thập chứng cứ không tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hoặc thực hiện không đầy đủ mà Tòa án cấp trên không thể bổ sung được;

- Bỏ lọt tài sản tranh chấp;

- Giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự hoặc giải quyết không đầy đủ các yêu cầu của đương sự;

- Tách hoặc nhập vụ án không đúng quy định của pháp luật.

* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán không có lỗi khi bản án, quyết định bị hủy:

- Có sự thay đổi cơ bản trong quy định của một số văn bản quy phạm pháp luật.

- Đương sự xuất trình chứng cứ mới làm thay đổi hoàn toàn bản chất, nội dung của vụ việc;

- Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án: (đương sự rút yêu cầu khởi kiện);

- Nguyên đơn, bị đơn là cá nhân chết mà không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ của họ hoặc nguyên đơn, bị đơn là cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng. Tòa án cấp trên hủy bản án, quyết định và đình chỉ vụ án;

C- Đối với các vụ án hành chính

1- Việc sửa bản án, quyết định

* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị sửa:

- áp dụng sai quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án;

- Thu thập chứng cứ, tài liệu chưa đầy đủ ở Tòa án cấp dưới nhưng Tòa án cấp trên đã bổ sung đầy đủ;

* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán không có lỗi khi bản án, quyết định bị sửa:

- Có chứng cứ mới mà Tòa án cấp dưới không thể biết được;

- Có sự thỏa thuận mới của các đương sự về việc bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính.

2- Về việc hủy bản án hoặc quyết định

* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị hủy:

- Giải quyết vụ án sai thẩm quyền;

- Xác định thiếu hoặc sai tư cách người tham gia tố tụng;

- Vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính;

- Việc điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ, không đúng quy định.

* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán không có lỗi khi bản án, quyết định bị sửa:

- Xuất hiện chứng cứ mới làm thay đổi bản chất, nội dung của vụ án;

- Người khởi kiện rút đơn khởi kiện;

- Đương sự là cá nhân chết mà không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ của họ hoặc đương sự là cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Để xác định được lỗi chủ quan hay khách quan (không có lỗi) của Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán, phải căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án cấp trên ở thời điểm thống kê, báo cáo. Trong thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án cũng không ít trường hợp bản án, quyết định phúc thẩm sửa hoặc hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thiếu căn cứ, không thuyết phục, thậm chí có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm cũng chưa chính xác. Việc sửa, hủy án của Tòa án cấp trên với Tòa án cấp dưới nếu đúng pháp luật, có căn cứ xác đáng là những bài học bổ ích, rất thiết thực cho các Tòa án cấp dưới. Ngược lại nếu không đúng, không chính xác, không phải là mẫu mực thì tác dụng hướng dẫn không có, thậm chí còn là tác hại khi các Tòa án cấp dưới "rút kinh nghiệm" và thực hiện theo "án lệ" Tòa án cấp trên.

Những vấn đề chúng tôi nêu trên có thể không mới, nhưng theo chúng tôi nó luôn luôn là câu chuyện thời sự hàng ngày của ngành Tòa án nhân dân vì đó là yêu cầu đánh giá đúng chất lượng xét xử, từ đó rút ra các bài học, có các giải pháp cụ thể, khả thi nhằm đáp ứng sự mong mỏi và yêu cầu nâng cao hơn nữa chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Tham khảo một số dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

>> Xem thêm:  Cách xác định tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

2. Tòa án cho người chưa thành niên ?

Thành lập tòa án chuyên biệt cho người chưa thành niên sẽ đáp ứng được yêu cầu bảo vệ, thúc đẩy các quyền của trẻ em, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Những năm gần đây, ở nước ta, tội phạm ở tuổi chưa thành niên ngày một gia tăng về số lượng, đa dạng về loại tội, nghiêm trọng về tính chất và mức độ.

Điều đáng lo ngại là độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội ngày càng thấp. Lứa tuổi thực hiện hành vi tội phạm cao nhất từ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm khoảng 60%; từ 14 đến dưới 16 tuổi là 32% và dưới 14 tuổi là 8%.

Xu hướng của thế giới

Xây dựng tòa án cho người chưa thành niên là một xu hướng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Việc này gắn liền với việc ban hành một đạo luật riêng về tư pháp người chưa thành niên. Có ba mô hình tòa án cho người chưa thành niên:

Tòa án cho người chưa thành niên?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

1. Tòa án cho người chưa thành niên có nguy cơ cao: Còn gọi là mô hình an sinh phúc lợi hoặc phục hồi. Mô hình này tập trung chủ yếu vào việc “chẩn đoán” và “điều trị” cho thanh thiếu niên vi phạm pháp luật. Các phiên tòa luôn được xét xử kín để bảo vệ thông tin nhận diện của trẻ em và cho phép những trẻ em này khi trưởng thành có một “lý lịch sạch”. Thẩm phán đóng vai trò của một “vị phụ huynh nghiêm khắc” hơn là vai trò người bảo vệ quyền năng tố tụng.

Tuy nhiên, do xu hướng trẻ em phạm tội ngày càng gia tăng, nhiều nước đã chuyển sang mô hình thứ hai – mô hình “trừng phạt”.

2. Mô hình trừng phạt: Mục tiêu của mô hình này nhấn mạnh về trách nhiệm và hình phạt trong xử lý tội phạm là người chưa thành niên. Mô hình này theo hướng tiếp cận “cứng rắn” đối với tội phạm chưa thành niên đã không đem lại hiệu quả như mong muốn. Ngược lại, tỉ lệ tội phạm nguy hiểm do người chưa thành niên thực hiện có xu hướng ngày càng gia tăng và tỉ lệ tái phạm rất cao.

3. Tòa gia đình: Xuất hiện trong vòng hai thập kỷ trở lại đây. Mục đích của mô hình này là đưa tất cả vấn đề gia đình vào xử lý trong quá trình tố tụng và đội ngũ hỗ trợ dịch vụ xã hội. Cách tiếp cận này cho phép thẩm phán nhìn nhận đầy đủ hơn về những gì đang diễn ra trong gia đình của trẻ phạm tội; từ đó có thể thu thập thông tin và đưa ra biện pháp xử lý mang tính “trị liệu” ưu việt hướng vào cả gia đình lẫn bản thân trẻ phạm tội.

Hết sức cần thiết

Thành lập tòa án người chưa thành niên ở nước ta chính là một trong những biện pháp tổ chức – pháp lý đặc biệt, góp phần hoàn thiện hệ thống tư pháp cho người chưa thành niên và cũng là sự khẳng định mạnh mẽ cam kết chính trị – pháp lý của Nhà nước ta trong việc thực hiện Công ước về quyền trẻ em.

Chúng ta đã có chính sách hình sự và tố tụng hình sự đặc biệt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã dành một chương riêng (chương XII, từ điều 90 đến điều 107), trong đó quy định nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Theo đó, các biện pháp tư pháp và các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng xác định thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên là loại “thủ tục đặc biệt” và quy định thành chương riêng (chương XXVIII từ điều 413 đến điều 430).

Tuy nhiên, tòa án chuyên biệt dành cho người chưa thành niên; những quy định pháp luật cụ thể bảo đảm môi trường tòa án (khu chờ riêng biệt, cách ly với bị cáo là người thành niên…); các thủ tục phiên tòa cũng như cách trang trí, các vật dụng bố trí tại phòng xử án đối với người chưa thành niên… vẫn chưa có. Thẩm phán được phân công xét xử, luật sư, công tố viên… không phải đều là những người “có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên”. Điều 423 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định: “Trường hợp đặc biệt cần bảo vệ bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi thì Tòa án có thể quyết định xét xử kín”. Thực tế xét xử của tòa án ở nước ta phổ biến là công khai (có vụ đưa ra xử lưu động), công chúng và phóng viên báo chí được tự do vào dự, viết bài, đưa tin nói rõ danh tính của bị cáo là người chưa thành niên, kể cả những vụ án hiếp dâm mà bị cáo và người bị hại đều là người chưa thành niên.

Để tạo môi trường xét xử thân thiện, đáp ứng những yêu cầu bảo vệ và thúc đẩy các quyền của trẻ em; đặc biệt với diễn biến tình hình tội phạm người chưa thành niên, việc thành lập tòa án chuyên biệt cho người chưa thành niên và ban hành văn bản pháp luật tố tụng đặc biệt riêng tương ứng là điều hết sức cần thiết. Hơn nữa, không chỉ áp dụng cho bị cáo mà còn cho cả người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên tham gia tố tụng. Những quy định pháp luật và thủ tục đặc biệt này phải bảo đảm rằng người chưa thành niên vi phạm pháp luật được đối xử với thái độ tôn trọng, phù hợp với phẩm giá, độ tuổi và nguyện vọng cũng như mong muốn được sớm phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng của người chưa thành niên. Có như vậy, quyền lợi của trẻ em mới được bảo đảm một cách đầy đủ, đúng đắn nhất, phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

20% vụ án là do người chưa thành niên gây ra

Năm 2007, toàn quốc có 10.361 vụ vi phạm hình sự do người chưa thành niên gây ra với 15.589 em. Sáu tháng đầu năm 2008 đã xảy ra 5.746 vụ, với 9.000 em (tăng 2% số vụ). Số vụ án do người chưa thành niên gây ra chiếm khoảng 20% tổng số vụ vi phạm hình sự, là một con số rất lớn, trong đó tội trộm cắp tài sản chiếm 38%; cố ý gây thương tích chiếm 11% và đặc biệt là giết người chiếm 1,4%. Số người chưa thành niên phạm tội bị đưa ra xét xử năm sau luôn cao hơn năm trước. Nếu năm 2001 chỉ là 385 người chưa thành niên thì năm 2005 đã lên đến 652 người, tăng 169,3%.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình

3. Tòa án và vấn dề cải cách tư pháp

Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cần nghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án.

1. Khái niệm, phạm vi cải cách tư pháp

Trong lý luận và thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, cải cách tư pháp luôn được hiểu với ý nghĩa chung nhất là sự thay đổi đem lại những điều mới có ích cho việc xây dựng nhà nước và bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nếu không đạt được ý nghĩa này, cải cách tư pháp sẽ bị coi là thất bại. Có thể xem việc cải cách tư pháp năm 1950 là một minh chứng. Thời kỳ đó, Bộ Tư pháp đã trình lên Chủ tịch Hồ Chí Minh dự án Sắc lệnh Cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng với những mục đích rất rõ ràng là bộ máy tư pháp cần được “dân chủ hoá”, “để công việc xét xử được nhanh chóng và gần dân hơn”, “thủ tục tố tụng cần được hợp lý và giản dị hơn”[1]. Với ý nghĩa đó, ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tư pháp, xây dựng nên những nguyên tắc tiến bộ đầu tiên cho nền tư pháp non trẻ của nước ta. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền, ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi là Nghị quyết 49). Mục đích của việc xây dựng Chiến lược cải cách tư pháp nhằm “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, hiện đại, bảo vệ công lý”. Tuy nhiên, trong điều kiện mới, để thể chế thành pháp luật theo các định hướng của Đảng, vấn đề đặt ra là cần có sự nhận thức thống nhất về khái niệm cơ quan tư pháp. Vì chỉ có thể xác định đúng đắn phạm vi cải cách tư pháp khi có sự nhận thức thống nhất về cơ quan tư pháp.

Trong hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay đã có quy định về cơ quan tư pháp. Hiến pháp năm 2013 đã quy định về quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp và quy định rõ cơ quan nào là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Vậy cơ quan tư pháp là gì? Trong khoa học pháp lý, cơ quan tư pháp được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng.

Tòa án và vấn dề cải cách tư pháp

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trong các tác phẩm kinh điển, nhiều luật gia đã không có gì khó khăn để tìm ra ý nghĩa đích thực của cơ quan tư pháp theo nghĩa hẹp. Montesquieu người được coi là “cha đẻ” của học thuyết phân quyền trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” xuất bản năm 1748 đã quan niệm “với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Người ta gọi đây là quyền tư pháp”[2]. Ông còn viết: “Quyền phán xét không nên giao cho một Viện Nguyên lão thường trực mà phải do những người trong đoàn thể dân chúng được cử ra từng thời gian trong một năm, do luật quy định thành toà án, làm việc kéo dài bao lâu tuỳ theo sự cần thiết”[3]. Như vậy, theo Montesquieu, cơ quan tư pháp là toà án, là cơ quan xét xử, cơ quan thực hiện nhánh quyền lực tư pháp.

Mười bốn năm sau, trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” xuất bản năm 1762, Rousseau viết: “Khi người ta không thể định rõ một tỷ lệ chính xác giữa các bộ phận cấu thành của nhà nước, hoặc khi mà những nguyên nhân khách quan làm suy yếu không ngừng mối quan hệ giữa các bộ phận ấy, thì người ta phải đặt một cơ quan đặc biệt, không tham dự vào bất cứ một bộ phận nào. Cơ quan này đặt mỗi bộ phận vào đúng vị trí của nó, làm mối dây liên lạc và yếu tố trung gian giữa Chính phủ với nhân dân, hoặc giữa Chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc giữa cả ba vế ấy khi cần. Cơ quan này tôi gọi là cơ quan tư pháp (tribunal)”[4]. Khi bàn về chức quan tư pháp, Rousseau còn nói rõ hơn: “Luật pháp công bố ý chí của toàn dân; chức quan tư pháp nói lên lời phán xét công cộng… toà án tư pháp không phải là người trọng tài xét xử dư luận công chúng, nó chỉ là người công bố dư luận công cộng. Xa rời chức năng đó thì mọi quyết định của toà án đều là điều vớ vẩn và vô hiệu”[5]. Xem thế, quan niệm của Rousseau về cơ quan tư pháp không có gì khác biệt với Montesquieu, theo đó nói đến cơ quan tư pháp phải hiểu đó là toà án, là hoạt động xét xử.

Chịu ảnh hưởng tư tưởng của các luật gia thời Khai sáng, khi làm bản Hiến pháp năm 1787, các nhà lập hiến Hoa Kỳ đã quy định ở Điều III, khoản 1 như sau: “Quyền lực tư pháp Hoa Kỳ sẽ được trao cho Toà án tối cao và những toà án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp”. Và hầu hết các hiến pháp của các nước tư bản như Nhật, Pháp, Đức, Thuỵ Điển… sau này khi quy định về cơ quan tư pháp đều coi đó là các toà án. Như vậy, quan niệm có tính chung nhất theo nghĩa hẹp về về cơ quan tư pháp từ học thuyết đến xây dựng hiến pháp thành văn của các nước có lịch sử lập hiến lâu năm được hiểu là các toà án.

Ở Việt Nam cũng có các quan niệm khác nhau về cơ quan tư pháp tuỳ theo cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quan niệm thứ nhất, liên quan đến việc xem xét cơ quan tư pháp theo nghĩa hẹp, có tác giả đã đưa ra khái niệm về tư pháp hình sự như sau: “Tư pháp hình sự trong Nhà nước pháp quyền là dạng thực hiện quyền lực nhà nước của hệ thống cơ quan có thẩm quyền nhân danh công lý (cơ quan tài phán – Toà án) để xét xử và đưa ra phán quyết đối với vụ án hình sự nhằm mục đích bảo vệ chế độ hiến định, nhân thân, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như hoà bình và an ninh của loại, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chống tội phạm, góp phần đưa các nguyên tắc được thừa nhận chung của Nhà nước pháp quyền vào đời sống thực tế”[6]. Hoặc “quyền tư pháp là khả năng và năng lực riêng có của các cơ quan Toà án chiếm vị trí đặc biệt trong bộ máy nhà nước thực hiện để tác động đến hành vi của con người, đến các quá trình xã hội”[7] Từ các định nghĩa này có thể thấy, cơ quan tư pháp chỉ là toà án.

Quan niệm thứ hai tiếp cận cơ quan tư pháp theo nghĩa rộng có tính hệ thống, theo đó “khái niệm tư pháp không chỉ được dùng cho Toà án, mà còn cả các cơ quan nhà nước khác thực hiện chức năng có liện quan đến xét xử. Trước hết đó là Viện kiểm sát, rồi đến các cơ quan điều tra, thi hành án”[8]. Quan niệm thứ hai này phản ánh nhận thức khá phổ biến trong giới nghiên cứu khoa học pháp lý hiện nay[9].

Cũng có thể tiếp cận khái niệm cơ quan tư pháp từ Hiến pháp và các đạo luật. Khác với các nước, ở Việt Nam các bản Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 không có quy định cụ thể về cơ quan tư pháp. Riêng Hiến pháp năm 1946 có chương VI quy định riêng về cơ quan tư pháp bao gồm Toà án tối cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp. Cũng có ý kiến cho rằng, Hiến pháp năm 1946 là khá điển hình cho việc vận dụng hạt nhân hợp lý của học thuyết phân quyền mà một trong những biểu hiện là có chương quy định riêng về cơ quan tư pháp và không chịu sự giám sát của Nghị viện. Các hiến pháp sau này đã có sự thay đổi về cấu trúc, theo đó không còn chương quy định riêng về cơ quan tư pháp mà thay vào đó là chương quy định về Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên, tìm hiểu kỹ về Toà án quy định trong Hiến pháp năm 1946 thì thấy rằng, cơ cấu của Toà án nước ta thời kỳ này có những điểm khá đặc thù, không hoàn toàn giống như quan niệm về cơ quan tư pháp theo nghĩa hẹp ở trên. Theo Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán, Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án, Sắc lệnh số 31 ngày 19/3/1947 sửa đổi Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 về tổ chức Tư pháp công an, Sắc lệnh số 258-SL quy định cách tổ chức Công an quân pháp trong thời kỳ kháng chiến, thì trong cơ cấu tổ chức của Toà án không chỉ có thẩm phán xét xử (thẩm phán ngồi) mà còn có thẩm phán buộc tội (thẩm phán đứng) được gọi là Chưởng lý, Biện lý, Phó Biện lý giữ vai trò công tố viên. Trong cơ cấu tổ chức của Tư pháp công an có cả Biện lý, Phó Biện lý, Thẩm phán sơ cấp. Biện lý có nhiệm vụ thi hành những bản án có hiệu lực. Trong quân đội, công an quân pháp được giao thẩm quyền thi hành bản án của Toà án binh. Như vậy, ngay từ những năm tháng đầu tiên xây dựng nền tư pháp non trẻ thì nội hàm khái niệm cơ quan tư pháp theo Hiến pháp năm 1946 đã được thu nhận thêm những thành tố khác như cơ quan công tố, điều tra, thi hành án. Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật về tư pháp, ngày 21/12/ 1999 Quốc hội đã ban hành Bộ luật Hình sự (mới) thường được gọi là Bộ luật Hình sự năm 1999. Trong Bộ luật này có một chương riêng quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Điều 292 quy định khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp như sau: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Trong chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp có nhiều điều luật quy định về các tội phạm cụ thể như Điều 293 – tội truy cứu trách nhiệm người không có tội; Điều 295 – tội ra bản án trái pháp luật; Điều 298 – tội dùng nhục hình; Điều 300 – tội làm sai lệch hồ sơ vụ án; Điều 305 – tội không thi hành án, Điều 306 – tội cản trở việc thi hành án… Như vậy, bằng việc thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đã công nhận khái niệm cơ quan tư pháp theo nghĩa rộng, theo đó cơ quan tư pháp bao gồm Toà án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Cơ quan thi hành án. Phạm vi cải cách tư pháp vì vậy cũng phải được xem xét toàn diện đối với các cơ quan này. Ngoài ra, để cải cách tư pháp thành công, không thể không hoàn thiện các cơ quan khác được gọi là cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng, giám định. Đây cũng là những thành tố có ảnh hưởng khá nhiều tới chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp.

2. Cải cách Toà án – trọng tâm của cải cách tư pháp

Quốc hội có ưu thế trong việc thực hiện Nghị quyết 49 thông qua hoạt động lập pháp. Sau ba năm thực hiện nghị quyết 49 (từ tháng 6/2005 đến nay), Quốc hội đã ban hành nhiều luật, bộ luật, pháp lệnh quan trọng về lĩnh vực tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp như đã sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005, ban hành Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công chứng, Luật Tương trợ tư pháp, Luật Phòng, chống tham nhũng. Tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII, Quốc hội sẽ thông qua Luật Thi hành án dân sự, cho ý kiến Dự án Luật Lý lịch tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự. Quốc hội cũng đã phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển, Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Pháp lệnh sửa đổi Điều 9 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù, Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày17/7/2006 của UBTVQH về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia, Nghị quyết số 1039/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 28/8/2006 của UBTVQH về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng; Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12 ngày 27/9/2007 của UBTVQH về tổ chức, nhiệm vụ và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về phòng, chống tham nhũng… Nhìn chung, khối lượng văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội, UBTVQH thông qua khá nhiều. Quá trình thể chế Nghị quyết 49 có những dự án luật gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp, như Bộ Luật Thi hành án đã phải nhiều lần trình ra Quốc hội, thay đổi cấu trúc tách ra thành hai luật: Luật Thi hành án dân sự và Luật Thi hành án phạt tù.

Trên cơ sở các quy định của các bộ luật, luật, pháp lệnh, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; kịp thời đấu tranh phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; tích cực giải quyết các vụ án dân sự, hành chính và thi hành án, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan tư pháp vẫn còn nhiều hạn chế, như còn để xảy ra tình trạng oan sai trong điều tra, truy tố, xét xử, công dân khiếu nại, tố cáo nhiều[10]. Số lượng án chờ xét xử để quá hạn luật định còn khá lớn[11]. Kết quả thi hành án hình sự, thi hành án phạt tù còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc[12]. Nguyên nhân có nhiều, nhưng điều có thể dễ nhận thấy là việc thể chế những chủ trương, quyết sách theo Nghị quyết 49 còn chậm, chưa đạt được được yêu cầu, mục tiêu cải cách đề ra.

Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cần nghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án. Lựa chọn vấn đề này vì xét đến cùng, Toà án là nơi giám sát kết quả hoạt động của cả hệ thống tư pháp. Ngay cả việc thi hành án ở khâu cuối cùng của tố tụng hình sự cũng như tố tụng dân sự còn gặp nhiều khó khăn cũng phải xem xét từ cội nguồn của vấn đề là chất lượng bản án. Bản án công bằng, vô tư luôn tạo ra sức mạnh và tính chính đáng của hệ thống cơ quan tư pháp vì nó được người dân tin tưởng “tâm phục, khẩu phục”. Thông qua hoạt động của Toà án, các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng phải không ngừng nâng cao năng lực của mình bởi lẽ theo tinh thần pháp quyền và pháp luật thực định nếu Toà án tuyên vô tội, ắt hẳn các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án cấp dưới phải thực hiện việc bồi thường nếu có lỗi để xảy ra oan trong quá trình tố tụng. Theo Nghị quyết 49: “Tổ chức hệ thống toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính cấp huyện; toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Việc nghiên cứu cải cách Toà án theo định hướng Nghị quyết 49 cần thực hiện theo các nguyên tắc sau:

Một là, phải xuất phát từ yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là đảm bảo tính độc lập của Toà án. Trong hệ thống các cơ quan tư pháp hiện nay, Cơ quan điều tra tuy hoạt động độc lập theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhưng do do cơ chế tổ chức cán bộ, Thủ trưởng cơ quan điều tra có thể kiêm nhiệm một chức vụ hành chính như Tổng cục trưởng, Phó giám đốc Công an tỉnh, Phó trưởng Công an huyện nên hoạt động điều tra khó tránh khỏi sự chỉ đạo mang tính hành chính. Ở ngành Kiểm sát, do đặc thù của ngành về tính tập trung thống nhất, kiểm sát viên ngoài việc thực hiện thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn bị chỉ đạo mang tính hành chính của Viện trưởng Viện kiểm sát. Vì vậy, cần xây dựng tính độc lập của Toà án như một thành luỹ cuối cùng để giảm thiểu tối đa sự can thiệp từ bên ngoài vào hoạt động của Toà án.

Hai là, xây dựng mô hình Toà án một mặt tạo thuận lợi cho việc thực hiện quyền lực nhà nước nhưng cũng cần quan tâm đến lợi ích của công dân khi có việc phải hệ luỵ đến chốn pháp đình. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng cơ quan tư pháp phải “gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”[13] vẫn cần được quán triệt khi thiết kế phạm vi quản hạt của Toà án. Một người dân khi tham gia tố tụng ở toà án cấp sơ thẩm có phạm vi quản hạt quá lớn là không thích hợp, nhất là ở những nơi còn khó khăn về giao thông.

Ba là, cải cách tổ chức toà án phải đặt ra mục tiêu góp phần làm cho công tác xét xử được “ công bằng, liêm khiết”[14] như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với cách đặt vấn đề như trên, cải cách Toà án tập trung vào các nội dung sau:

a) Xác định hợp lý phạm vi quản hạt

Từ góc độ lợi ích của người dân, phạm vi quản hạt của Toà án sơ thẩm khu vực ở các vùng nông thôn, miền núi dù có số lượng án ít cũng nên thành lập mỗi huyện một Toà án sơ thẩm khu vực. Ở thành phố, do điều kiện giao thông thuận lợi hơn có thể hai hoặc ba quận thành lập một Toà án sơ thẩm khu vực. Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nên thành lập một Toà án phúc thẩm. Đối với Toà án thượng thẩm, tuỳ theo số lượng án phải thụ lý, giải quyết cần có phạm vi quản hạt khoảng năm đến mười tỉnh thành lập một Toà án thượng thẩm là hợp lý (chẳng hạn có thể thành lập Toà án thượng thẩm đặt ở Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng, Buôn Mê Thuột, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ…)

b) Phân định đúng thẩm quyền

Nghị quyết 49 xác định “Toà án sơ thẩm khu vực có nhiệm vụ, thẩm quyền xét xử sơ thẩm các loại vụ án; Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà án thượng thẩm có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Yêu cầu của việc phân định thẩm quyền cho mỗi cấp Toà án là phải đảm bảo nâng cao chất lượng giải quyết án, án không bị tồn đọng, quá hạn luật định, giảm thiểu đến mức thấp nhất để xảy ra oan sai trong hoạt động xét xử, đồng thời cũng phải kế thừa yếu tố hợp lý của việc phân định thẩm quyền của các Toà án hiện nay, tránh việc xáo trộn lớn không cần thiết. Cơ sở của việc phân định thẩm quyền cho mỗi cấp toà án là cần kết hợp giữa phươg pháp phân tích, thống kê cơ học và tổng kết thực tiễn xét xử. Trước hết hãy phân tích số liệu thống kê khung phạt trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo Bộ luật Hình sự năm 1999, tội phạm được phân thành bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Bảng thống kê các khung hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 1999 gắn với việc phân loại tội phạm

TT

LOẠI TỘI

SỐ KHUNG HÌNH PHẠT

TỶ LỆ TRÊN TỔNG SỐ KHUNG HÌNH PHẠT

1

Tội phạm ít nghiêm trọng

166

24,73%

2

Tội phạm nghiêm trọng

200

29,8%

3

Tội phạm rất nghiêm trọng

207

30,84%

4

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

98

14,6%

Cộng

671

Việc phân định thẩm quyền xét xử của Toà án hiện nay, theo khoản 1, Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây:

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293,294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật Hình sự.

Qua thống kê cho thấy, tổng số khung hình phạt thuộc các tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng là 573 khung hình phạt. Trong số này, số khung hình phạt phải loại trừ không thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực theo các khoản a, b, c Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự là 68 khung hình phạt. Như vậy, thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực hiện nay là 505 khung hình phạt chiếm 75,26% trên tổng số 671 khung hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 1999; thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu theo khoản 2, Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự chiếm khoảng gần 25% tổng số khung hình phạt. Trên thực tế, tội phạm xảy ra trong xã hội ra thường có xu hướng sẽ tăng lên đối với tội có khung hình phạt thấp, giảm xuống đối với tội có khung hình phạt cao so với tỷ lệ thống kê cơ học trong tổng số các khung hình phạt của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, với việc Toà án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm khoảng 25% khung hình phạt này (chủ yếu là tội đặc biệt nghiêm trọng) thì ba toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao hiện nay cũng phải rất vất vả để xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Cũng chính vì vậy mà áp lực khiếu nại yêu cầu xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Toà án nhân dân tối cao không ngừng tăng lên và không có cách giải quyết triệt để[15].

Từ sự phân tích số liệu thống kê ở trên cho thấy, để thực hiện Nghị quyết 49, có cơ sở để giao cho Toà án sơ thẩm cấp khu vực thẩm quyền xét xử các tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng như thẩm quyền của Toà án cấp huyện hiện nay và không nên tăng thẩm quyền cho Toà án này. Đối với Toà án phúc thẩm, nên giao cho Toà án này thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm như thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh hiện nay và không xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Đồng thời để giảm áp lực cho Toà án nhân dân tối cao, nên giao cho Toà án thượng thẩm thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm. Toà án nhân dân tối cao chỉ còn xét xử giám đốc thẩm các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật có tầm ảnh hưởng đến toàn quốc.

c) Cơ cấu tổ chức

Hiện nay cơ cấu tổ chức của ngành toà án có ba cấp: Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao. Trong Toà án nhân dân tối cao còn có ba Toà phúc thẩm đặt ở ba miền và các Toà chuyên trách. Cấu trúc này làm cho tổ chức Toà án nhân dân tối cao rất “đồ sộ” với biên chế hàng trăm thẩm phán, nhưng việc xét xử của các Toà phúc thẩm, Toà chuyên trách này vẫn còn để xảy ra oan sai, làm ảnh hưởng nhiều đến tính “ linh thiêng” của Toà án nhân dân tối cao – với tư cách là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực hiện Nghị quyết 49, cơ cấu tổ chức của ngành Toà án sẽ có Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm và Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, để góp phần nâng cao năng lực giải quyết án, tăng cường tính độc lập của mỗi cấp Toà án và từng bước xây dựng Toà án nhân dân tối cao trở thành chốn “ linh thiêng” của pháp đình, thì cần để cho các Toà thượng thẩm có một vị trí pháp lý độc lập, không phụ thuộc tổ chức Toà án nhân dân tối cao. Với cơ cấu tổ chức nói trên, việc xây dựng Toà án nhân dân tối cao ở nước ta từng bước có điều kiện tiếp cận với thông lệ của các nước có truyền thống tư pháp, theo đó, Toà án nhân dân tối cao sẽ có vai trò to lớn trong sáng tạo án lệ, bổ sung cho nguồn luật và số lượng thẩm phán thật sự không cần nhiều (khoảng 9 đến 15 thẩm phán).

d) Về cơ chế bổ nhiệm thẩm phán

Cùng với việc cải cách mô hình tổ chức Toà án, thì vấn đề cải cách cơ chế bổ nhiệm thẩm phán phải được ưu tiên đặt lên hàng đầu vì thẩm phán là “linh hồn” của Toà án. Việc chuẩn bị nhân sự cho việc bổ nhiệm thẩm phán cần theo nguyên tắc của Lê-nin “thà ít mà tốt” chứ không thể vì yêu cầu số lượng mà phải “…vơ vét, tận dụng những lực lượng đã có để bổ nhiệm cho đủ” như có lần Chánh án Toà án nhân dân tối cao trả lời chất vấn trước Quốc hội[16]. Theo quy định của pháp luật, hiện nay có hai cơ chế bổ nhiệm thẩm phán. Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm thẩm phán các Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự khu vực; Chủ tịch nước bổ nhiệm thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương. Cơ chế bổ nhiệm nhiệm hiện nay vẫn mang tính “khép kín”, chưa tạo cơ hội cho người có phẩm chất, năng lực trong hệ thống chính trị trở thành thẩm phán (nguồn bổ nhiệm chủ yếu vẫn từ khối thư ký Toà án), chưa phát huy được vai trò của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội với tư cách là cơ quan thể hiện chủ quyền nhân dân, chưa gắn công tác giám sát tư pháp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân với công tác cán bộ của cơ quan tư pháp. Mặt khác, việc giao cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm thẩm phán chưa phải là phương án tối ưu để nâng cao chất lượng hoạt động của Toà án, nhất là đảm bảo tính độc lập trong hoạt động của mỗi cấp Toà án. Vì thế, cần thiết phải có sự điều chỉnh theo hướng giao cho UBTVQH bổ nhiệm thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thẩm phán Toà án quân sự trung ương. Sở dĩ cần có sự điều chỉnh này vì hiện nay UBTVQH là cơ quan quyết định biên chế, chế độ tiền lương của ngành Toà án, quyết định một số thẩm phán làm thành viên của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thực hiện giám sát hoạt động của Toà án nhân dân tối cao giữa hai kỳ họp Quốc hội. Đối với việc bổ nhiệm thẩm phán Toà án thượng thẩm, thẩm phán Toà án phúc thẩm, Toà án sơ thẩm khu vực nên giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm. Để tập trung cho hoạt động xét xử, sáng tạo án lệ ở cấp cao nhất, không nên giao cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán ở bất kỳ cấp nào.

3. Một số vấn đề liên quan cần giải quyết đồng bộ với cải cách tổ chức Toà án

a) Đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng

Sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp nói chung, Toà án nói riêng là vấn đề có tính nguyên tắc hiến định. Sự lãnh đạo của Đảng không mâu thuẫn hoặc ảnh hưởng tới tính độc lập của Toà án. Nội dung lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo về chính trị, tư tưởng; lãnh đạo về tổ chức cán bộ; lãnh đạo định hướng công tác. Cũng có ý kiến mong muốn thành lập đảng bộ ngành Toà án để lãnh đạo theo ngành dọc từ Toà án nhân dân tối cao xuống đến Toà án sơ thẩm khu vực. Ý kiến này là không thuyết phục, vừa làm cho Toà án nhân dân tối cao thêm “cồng kềnh” vừa dễ mâu thuẫn với nguyên tắc độc lập trong hoạt động của mỗi cấp Toà án. Vì vậy, tổ chức đảng của Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm cần phải gắn bó với cấp uỷ địa phương, nơi có trụ sở của các Toà án này tọa lạc.

b) Giám sát tư pháp

Giám sát tư pháp là một bộ phận thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, một bộ phận quyền giám sát của Hội đồng nhân dân. Việc Quốc hội thành lập Ủy ban Tư pháp cho thấy quyết tâm của Quốc hội trong việc tăng cường giám sát đối với hoạt động của cơ quan tư pháp. Đây vừa là phản ánh nhu cầu khách quan của việc giám sát nhằm bảo đảm cho các cơ quan tư pháp hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật đồng thời cũng là phản ánh quan điểm chính thống của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước ta không áp dụng máy móc học thuyết phân quyền, nên luôn luôn đề cao vai trò của cơ quan đại diện thay mặt nhân dân để giám sát đối với hoạt động của cơ quan tư pháp. Vì vậy, cần kế thừa cơ chế giám sát đang có, theo đó nên giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giám sát hoạt động của Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm và Toà án thượng thẩm có trụ sở toạ lạc ở tỉnh đó. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội nên tập trung vào việc giám sát hoạt động của Toà án nhân dân tối cao.

c) Hoàn thiện pháp luật

Việc thành lập Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm và Toà án thượng thẩm không nằm trong cơ cấu của Toà án nhân dân tối cao, phân định thẩm quyền xét xử cho các toà án này, việc điều chỉnh cơ chế bổ nhiệm thẩm phán… đặt ra nhu cầu cần thiết phải sửa đổi Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước như Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật tổ chức Toà án nhân nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự… Đó là khối lượng lập pháp rất lớn đòi hỏi công tác nghiên cứu phải có chương trình, kế hoạch cụ thể và trình cấp có thẩm quyền quyết định. Và trên hết để thực hiện Nghị quyết 49 đúng tiến độ, trách nhiệm này một phần rất quan trọng thuộc về Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội với tư cách là thành viên cơ quan lập pháp, cơ quan thực hiện quyền giám sát tối cao. Trách nhiệm này là rất vẻ vang nhưng cũng không kém phần cam go vì cải cách tư pháp luôn là vấn đề giải quyết xung đột lợi ích và dễ bị ách tắc do nhận thức khác nhau về những vấn đề đã được định hướng trong Nghị quyết 49.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án kinh tế - kinh doanh thương mại

4. Tòa án thật cho thế giới ảo

Trong khi nền kinh tế toàn cầu còn bùng nhùng trong cơn suy thoái thì hoạt động kinh doanh trong các thế giới ảo như Second Life, Facebook và Everquest lại khởi sắc và phát triển rất nhanh. Ranh giới kinh tế giữa thế giới ảo và thật đang thu hẹp nhanh chóng, làm phát sinh những rắc rối pháp lý cần tới tòa án để phân xử.

Thế giới ảo

Hãng phân tích tài chính Mỹ Piper Jaffray ước tính trong năm 2009, người Mỹ sẽ đổ khoảng 621 triệu USD vào các thế giới ảo. Con số này thậm chí còn cao hơn rất nhiều tại châu Á. Còn theo số liệu của hãng nghiên cứu Plus Eight Star, năm ngoái người dùng đã bỏ khoảng 5 tỉ USD để đầu tư vào các tài sản trong thế giới ảo.

Chẳng hạn như trong Second Life, chỉ tính riêng quý II, cư dân mạng đã giao dịch khoảng 144 triệu USD, tăng 94% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính trung bình, Second Life có mức trao đổi hàng hóa và dịch vụ (dĩ nhiên là ảo) đạt khoảng 600 triệu USD/năm. Hiện Second Life đang là nền kinh tế ảo lớn nhất với giá trị thậm chí còn cao hơn GDP của hàng chục quốc gia trung bình trên the giới cộng lại.

Hàng nghìn người chơi đang kiếm tiền trong thế giới ảo bằng cách buôn bán, trao đổi hàng hóa ảo – từ quần áo, đồ đạc tới các tác phẩm nghệ thuật. Thậm chí, người ta còn tổ chức dịch vụ… cưới ảo, phiên dịch hoặc tư vấn kiến trúc. Số người kiếm hàng trăm nghìn USD từ những dịch vụ kiểu này không phải là hiếm, và đã có rất nhiều “công dân ảo” trở thành tỉ phú trong thế giới thực.

Còn tại Việt Nam, thế giới ảo cũng không phải khái niệm mới lạ. Giao dịch trong các thế giới này cũng sôi động không kém. Một đôi nhẫn “Vô danh” trong game Võ Lâm Truyền Kỳ đã có thời điểm được rao bán hàng trăm triệu đồng; một bộ đồ Hoàng Kim cũng có giá vài chục triệu đồng, và rất nhiều giao dịch có giá trị khác.

Tòa án thật cho thế giới ảo

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Kiện tụng thật

Shannon Grei (còn có tên là Munchflower Zaius), một cư dân của Second Life, đã nộp đơn kiện lên Tòa án quận Bắc California hôm 15/9 vừa qua. Trong đơn kiện, Grei cáo buộc nhà cung cấp dịch vụ Second Life là Linden Lab và một người chơi khác là Kevin Alderman đã vi phạm bản quyền. Grei hiện đang điều hành một cửa hàng bán quần áo theo kiểu Gô-tích trong Second Life, đã cho rằng Alderman nhái kiểu dáng thiết kế của mình, đồng thời cáo buộc Linden Lab đã làm ngơ không ngăn chặn hành vi này.

Điều thú vị ở đây chính là “bị đơn” Alderman cũng từng đứng ra kiện những người khác trong Second Life về “tội” ăn cắp bản quyền (năm 2007) và đã không ngăn chặn những người dùng sử dụng 2 chương trình sao chép CopyBot và BuilderBot để nhái lại sản phẩm. Alderman khá nổi tiếng trong Second Life với mức thu nhập trên 1 triệu USD nhờ bán các sản phẩm liên quan tới chủ đề tình dục.

Trên đây là hai vụ kiện vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đầu tiên đối với nhà cung cấp dịch vụ trong thế giới ảo. Theo Giáo sư luật James Grimmelmann tại Trường Luật New York, khi nền kinh tế ảo ngày càng phát triển, những vụ kiện kiểu này sẽ ngày càng phổ biến, và cơ quan đứng ra phán xét không ai khác chính là các tòa án trong thế giới thực. Trong khi đó, các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến như Linden Lab thì thú nhận rằng họ có rất ít quyền để điều khiển hành vi người chơi. Tuy nhiên, Linden Lab cũng thực thi một số biện pháp bảo vệ quyền lợi người dùng, chẳng hạn như triển khai các công cụ cấp phép mới, những công cụ thiết kế theo chuẩn công nghiệp để ngăn chặn tình trạng đánh cắp tài sản trí tuệ trong thế giới ảo.

Tuy vậy, Linden Lab cho rằng việc thực thi những biện pháp này không hoàn toàn dễ dàng, nhất là khi liên quan tới các tài sản 3D kỹ thuật số. “Những vụ việc phát sinh liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ trong Second Life đã vượt trên những quy định pháp lý”, Linden Lab thừa nhận.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn, soạn thảo đơn khởi kiện dân sự, kinh tế

5. Văn hóa và trật tự tại tòa án:

Thẩm phán ngán cảnh “náo tụng đình”

Bài mà các đương sự thường diễn nhất là dọa nạt, thóa mạ, xúc phạm, lớn tiếng với thẩm phán, với các đương sự khác.

1. Cách đây chưa lâu, TAND quận 1 (TP.HCM) thụ lý giải quyết một vụ đòi bồi thường uy tín, danh dự bị xâm phạm. Quá trình hòa giải, vị thẩm phán phụ trách nhiều phen hết hồn vì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở phía nguyên đơn quậy tưng.

Có lần tòa đang chăm chú cho hai bên hòa giải thì người này đã bất thần quay sang định bạt tai phía bị đơn. Cũng đang tập trung nghe thẩm phán hòa giải, phía bị đơn giật nảy mình, tái người vì giận kiểu xử sự thiếu văn hóa. Cũng may cho các bên là luật sư của nguyên đơn đi theo đã kịp can ngăn để người này hạ hỏa.

Ngoài chuyện này thì chuyện đập bàn, nói lớn tiếng gần như lúc nào cũng xảy ra khi các bên ngồi lại với nhau. Vị thẩm phán ngán ngẩm lắc đầu, giải quyết vụ này mà lòng cứ hồi hộp, lo lắng không yên. Ngại nhất là những lúc đương sự bất thần giở trò, thẩm phán không biết xoay xở sao cho kịp.

Chuyện thẩm phán của tòa quận 1 vướng phải thực ra không phải là cá biệt. Trước đây, một thẩm phán ở TAND quận Phú Nhuận (TP.HCM) cũng muốn lên “tăng xông” vì đương sự quậy quá cỡ trong một vụ đòi nợ. Nguyên do là hai bên bất đồng quan điểm rất căng nên khi hòa giải thì họ lại cãi nhau um trời.

Văn hóa và trật tự tại tòa án: Thẩm phán ngán cảnh “náo tụng đình”

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Một lần tòa kêu gọi hai bên bình tĩnh và đưa ra một hướng giải quyết để cả hai cùng có lợi thì ngay lập tức, một bên lớn tiếng trách tòa đã thiên vị bên kia. Quá đà hơn, đương sự còn đứng dậy, vung tay, đập bàn đập ghế la hét làm náo loạn cả phòng hòa giải. Thấy đương sự hung hăng quá, thẩm phán thụ lý giải quyết phải cầu cứu đến công an. Tuy nhiên, khi lực lượng này xuất hiện thì đương sự này lại ngoan ngoãn như đất khiến tòa cũng không xử lý gì thêm được.

Các thẩm phán ở các tòa TP.HCM như tòa quận Gò Vấp, quận 12, quận Bình Thạnh… cho biết họ đều có ít nhiều những kỷ niệm khó quên như trên về các đương sự của mình. Bài mà các đương sự thường diễn nhất là dọa nạt, thóa mạ, xúc phạm, lớn tiếng với thẩm phán, với các đương sự khác.

Có đương sự không biết kiềm chế là gì, đã nói là không ngừng nghỉ dù cho thẩm phán có cố ngắt lời. Có đương sự khác lúc thì huơ tay múa chân, lúc thì la hét, đập bàn ghế, khóc lóc gây mất trật tự phòng hòa giải, khuôn viên của tòa.

Nhiều thẩm phán than thở không dưng mắc ách giữa đàng, có khi giận lắm. Có nhiều vụ đương sự xúc phạm thẩm phán nặng nề, nếu như không kềm lòng thì có thể dẫn đến chuyện “ăn thua đủ” với đương sự. Thế nhưng nhỏ nhẹ nói lý với các đương sự để họ kiềm chế thì họ không nghe. Bởi khi họ nổi nóng, làm bậy, thẩm phán càng nói lý thì lại càng như đổ thêm dầu vào lửa.

Do vậy, các thẩm phán thường phải ôm nỗi buồn vào lòng, có khi ăn không ngon, ngủ không yên, bị ức chế tâm lý ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc. Nhưng có khi bị riết trở thành quen, thành có kinh nghiệm với chuyện nổi khùng của đương sự. Nhiều thẩm phán trở nên lạc quan hơn rồi tự an ủi nhau, thẩm phán cần làm việc khéo léo, xử lý làm sao đừng để đương sự rơi vào trạng thái kích động. Nếu đương sự bị kích động hoặc có biểu hiện lạ thì thẩm phán chuẩn bị tư thế “bỏ của chạy lấy người”.

2. Hiện nay, việc bảo vệ phiên tòa do lực lượng cảnh sát tư pháp phụ trách. Lực lượng này sẽ bảo vệ an toàn cho HĐXX, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa, phòng ngừa, ngăn chặn mọi hành vi xâm phạm an ninh, trật tự nơi diễn ra phiên tòa.

Thế nhưng quá trình lấy lời khai, hòa giải thì không có lực lượng cảnh sát tư pháp bảo vệ khiến trật tự tòa bị xâm phạm, thẩm phán và những đương sự khác lo lắng không yên. Có nhiều đương sự quậy phá mà thẩm phán không thể làm gì được. Có chăng là thẩm phán cũng chỉ yêu cầu đương sự rời khỏi nơi làm việc để tránh ồn ào, mất trật tự. Nhưng nếu đương sự không nghe lời thì thẩm phán cũng bó tay.

Còn căng hơn nữa thì thẩm phán có thể “alô” cho lực lượng công an địa phương. Nhưng chờ đến khi lực lượng này có mặt thì có khi mọi chuyện đã xong, thẩm phán đã “ăn đòn” rồi.

Một thẩm phán cho biết Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản liên quan cũng không quy định thẩm quyền và hình thức xử phạt để xử lý đối với trường hợp gây rối làm mất trật tự khi đang lấy lời khai, hòa giải. Thông thường thẩm phán chỉ biết lập biên bản ghi nhận sự việc để báo cáo lãnh đạo.

Theo thẩm phán này, cần phải có cơ chế để khi có sự việc gây rối làm mất trật tự tại các buổi hòa giải, lấy lời khai, khi cơ quan tòa án có điện thoại báo, cơ quan công an chức năng phải cử người sang để giải quyết kịp thời. Còn tốt hơn nữa thì lực lượng cảnh sát tư pháp nên có mặt trong những ngày tòa làm việc để có chuyện gì xảy ra thì có lực lượng tiếp ứng xử lý ngay.

Một thẩm phán khác đề xuất, đương sự gây rối là vi phạm pháp luật. Trong chừng mực nhất định thì đó có thể coi là chuyện giao tiếp. Nhưng nếu quá đà xúc phạm nặng, gây rối nặng thì đó là hành vi vi phạm, thẩm phán có thể ra quyết định xử phạt. Nặng hơn có thể bị truy cứu tội gây rối trật tự công cộng. Có như thế thì tính tôn nghiêm của tòa mới được thể hiện, các đương sự cũng như thẩm phán mới được bảo vệ một cách cao nhất!

Tuy nhiên, những điều nêu trên cũng chỉ đang dừng lại ở sự kêu cứu của các thẩm phán thôi. Còn thực tế, ngày ngày đối diện với những rủi ro xuất phát từ sự nóng nảy, coi thường tôn ti trật tự tòa của đương sự thì thẩm phán đang phải tự mình cứu lấy mình là chính.

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không?