Luật sư tư vấn:
Thông qua nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển các luận điểm trong khoa học pháp lý về quan hệ hợp đồng cho vay trong đòi sống kinh tế - xã hội, mục này sẽ làm sáng tỏ vai trò và bản chất pháp lý của hợp đồng cho vay trong pháp luật Việt Nam. Lịch sử hình thành khái niệm về hợp đồng cho vay diễn ra như sau:
1. Giai đoạn sơ khai của quan hệ vay mượn:
Trong luật La Mã cổ, thuật ngữ “vay mượn” tiêhg La tinh là “mutuum” hiểu theo nghĩa, hành vi chuyển giao tài sản sang người vay nhằm sử dụng hoặc tiêu thụ, kèm theo đó là nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ (tương ứng) số lượng, chất lượng tài sản đó khi hết thời hạn hợp đồng. Quan hệ vay mượn xuất hiện đã lâu và gắn liền với các nhu cầu trao đổi tư liệu sản xuất, hàng hóa phổ biến của con người trong đòi sống xã hội. Khỏi đầu quan hệ này chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp, giữa các thành viên trong cộng đồng nhằm tương trợ, giúp đõ lẫn nhau trong cuộc sốhg. Đối tượng vay mượn là của cải sẵn có với mục đích:
“để giải quyết những khó khăn tạm thời về kinh tế; đặc biệt đối với những gia đình túng thiếu cần vốn để sản xuất, kinh doanh, phải vay mượn tiền, vàng của người khác”.
Xuất phát từ nhu cầu tự nhiên này, quan hệ vay mượn ở thời kỳ sơ khai mang bản chất tương hỗ. Do đó yếu tố tín nhiệm (niềm tin, sự tin tưởng) luôn được đặt ra đối với người vay.
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, phương thức kinh doanh “hàng đổi hàng” ở hình thái kinh tế sơ khai không còn phù hợp, thay vào đó là các giao dịch mua bán qua trung gian thanh toán là “tiền” do các ngân hàng phát hành. Quan hệ cho vay phát triển đa dạng hơn, không còn dừng lại ở khía cạnh vay mượn đơn thuần, mà được mở rộng dưới hình thức pháp lý: bao thanh toán, thuê tài chính,... Đi kèm theo đó, quan hệ này còn hướng đến một chức năng không kém phần quan trọng là điều tiết vốn từ người có tiền sang người thiếu tiền, giải quyết các nhu cầu về vốn cấp bách trong sản xuất, đời sống ngày càng tăng cao.
Nhu cầu đáp ứng vốn kịp thời kể cả đối với người đang khó khăn về tài chính, dẫn đến tình trạng cho vay nặng lãi. Hình thức cho vay này, lãi suất người vay phải thanh toán cho người cho vay cao hơn rất nhiều so với giá trị của khoản vay, vi phạm các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm cho vay nặng lãi (ở khoản vay này, người cho vay thường nối lỏng thủ tục vay, không cần có tài sản bảo đảm, bên vay toàn quyền sử dụng tiền vay vào bất kỳ mục đích nào mình muốn). Nếu không có sự can thiệp kịp thời của Nhà nước, hình thức cho vay nặng lãi gây thiệt hại cho bên vay, đẩy người vay vào cảnh khôn cùng, ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự xã hội vì những mâu thuẫn, tranh chấp chủ yếu về lãi suất (do lãi suất quá cao, vượt quá khả năng thanh toán của người vay), hay cách thức thu hồi tiền vay trái pháp luật (bên cho vay thường sử dụng vũ lực, đe dọa khi đòi nợ,...) phức tạp, không tuân theo nguyên tắc thu hồi tài sản qua các thủ tục tư pháp thông thường.
Pháp luật ở các nước trên thế giới như Đức và Trung Quốc ghi nhận quan hệ vay tài sản còn nhằm mục đích sinh lợi, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Hình thức giao dịch này cho phép bên cho vay được nhận một mức lãi suất nhất đỉnh tính trên khoản tiền vay, có khống chế mức trần (lãi suất) bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên vay, chông lại tình trạng cho vay nặng lãi. Đó còn là thước đo về năng lực hoàn trả tiền vay gốc và lãi trong giới hạn cho phép. Nếu người vay sử dụng khoản vay chính đáng, có hiệu quả, khả năng này hoàn toàn có thể thực hiện được, thậm chí mang lại các lợi ích vật chất nhất định từ vốn vay. Quy định này làm hình thành các kênh tiếp cận tín dụng đa dạng, cả trong lĩnh vực dân sự và ngân hàng nếu dựa trên các đặc điểm chuyên biệt về chủ thể và mục đích của hợp đồng, giao dịch vay.
2. Sự hình thành, phát triển của quan hệ cho vay trong lĩnh vực ngân hàng:
Các nghiên cứu trong khoa học ngân hàng trước đây đã chỉ ra nguồn gốc cho vay xuất phát từ hoạt động nhận giữ, bảo quản tiền, vàng dư thừa trong dân chúng. Do nhu cầu mở rộng hoạt động mua bán giữa các vùng lãnh thổ, thành phố và quốc gia trên lãnh thổ châu Âu tăng cao, đòi hỏi phải có định chế ngân hàng với chức năng chính là “đi vay để cho vay” - Thuật ngữ sử dụng phổ biến trong khoa học ngân hàng nhằm xác định bản chất kinh tế: khai thác nguồn lợi vốn để mả rộng tín dụng (Xem: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Tổ chức hợp tác kỹ thuật Cộng hòa Liên bang Đức. Theo chức năng này, ngân hàng với tư cách vừa là bên cho vay, vừa là bên huy động vồn, làm trung gian điều phối nguồn tiền nhàn rỗi, thay vì để các bên (mua bán hàng) tự giao dịch, thanh toán trực tiếp sẽ gặp những rủi ro do thất thoát, mất mát, kém hiệu quả kinh doanh.
Điểm chung của hệ thống ngân hàng giai đoạn sơ khai đều thuộc sở hữu tư nhân, mang tính tự phát, giao dịch bị chi phối bỗi các tập quán, thông lệ thương mại, thay vì dưới các định chế pháp lý, được pháp luật quy định cụ thể, chặt chẽ.
Xét trong bối cảnh Việt Nam, dưới thời phong kiến, nền kinh tế phát triển còn sơ khai, mang tính tự cung tự cấp, khả năng tích lũy vốn nhàn rỗi chưa cao nên định chế ngân hàng không tồn tại. Khi Ngân hàng Quốc gia Việt Nam thành lập (năm 1951) và xuyên suốt giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung (kéo dài đến năm 1986), mô hình hệ thống ngân hàng chỉ “một cấp”. Quan hệ cho vay bị chi phối bởi cung cách quản lý mệnh lệnh hành chính thay vì một hình thức giao dịch dân sự tự do, bình đẳng như đúng nghĩa. Nguồn vấn tín dụng khi đó được xem như một kênh cung ứng tài chính cho nền kinh tế kế hoạch (Xem thêm: Điều 9 Quyết định số 49-QĐ ngày 16/10/1969 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về thể lệ cho vay ngắn hạn đối với các công ty vật tư nông nghiệp). Vì vậy, có quan điểm lúc bấy giờ còn cho rằng:
“Nhà nước xã hội chủ nghĩa có thể sử dụng kết hợp phương pháp cho vay của tín dụng và phương pháp cấp phát của tài chính để cung cấp vốn đầy đủ và kịp thời cho nền kinh tế quốc dân, bảo đảm sự phát triển liên tục của quá trình tái sản xuất xã hội”.
Theo nhận định này đúng với bản chất tín dụng trong bối cảnh kinh tế còn bao cấp. Trong đó mục tiêu sinh lòi (tìm kiếm lợi nhuận) của các chủ thể ngân hàng không phải là yếu tố quan trọng hàng đầu, mà chính là hoạt động phân phối vốn theo các chỉ tiêu, kế hoạch sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm được diễn ra thông suốt.
Hệ quả của hệ thống kinh tế - tài chính, tiền tệ giai đoạn này đã tác động tiêu cực đến các quan hệ vay, được thể hiện rõ nét ở những điểm như sau:
i) Các khoản cho vay cá nhân còn hạn hẹp (do kinh tế tư bản tư nhân chưa được Nhà nước thừa nhận), những khoản vay cá nhân nếu có nhằm mục đích sửa chữa nhà ở hoặc cho các xã viên vay vốn để phát triển kinh tế hộ gia đình, với lãi suất khá thấp, thuật ngữ “cho vay tiêu dùng” bỏ ngỏ, gần như không được pháp luật đề cập;...
ii) Khi quan hệ cho vay thay đổi tiệm cận với các chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống ngân hàng “hai cấp” ra đời, hoạt động ngân hàng chủ động, chuyên nghiệp, phát triển mạnh mẽ hơn, hòa chung với sự tồn tại phát triển lâu đời của nền tài chính thế giới. Sự phát triển này kéo theo những giá trị, tác động tích cực đối với hệ thống ngân hàng, nhưng cũng đặt ra những thách thức mới đối với các nhà làm luật trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật theo hướng hiện đại, hội nhập.
Giao dịch cho vay gắn với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, đồng thời đã khẳng định vai trò quan trọng, trung tâm trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, như được minh chứng:
Một là, nhu cầu vốn vay là tiền tệ dễ sử dụng, dễ cung ứng cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt được mục tiêu, kế hoạch đề ra; tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhu cầu vốn đa dạng, phức tạp, ngày càng cao;
Hai là, các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, có đủ điều kiện nhất định đều có thể tham gia quan hệ cho vay, được tự chủ tiến hành ký kết, thực hiện hợp đồng vay tùy theo nhu cầu và khả năng kinh tế của mình;
Ba là, giao dịch cho vay vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu, quyết định đến hiệu quả, thành công trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các giao dịch cấp tín dụng khác (bảo lãnh, bao thanh toán,...) chiếm tỷ trọng giao dịch rất thấp (có thể thấy rõ tỷ trọng này trong các báo cáo tài chính hợp nhất hằng năm tại các ngân hàng thương mại);
Bốn là, các yêu cầu an toàn khi cho vay, xử lý hậu quả phát sinh do yếu kém trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, đều nhằm mục đích để bảo đảm cho các giao dịch này phát triển lành mạnh, củng cố quan hệ hợp đồng.
Với những đặc điểm chuyên biệt, làm hình thành nên vai trò trung tâm của chế định hợp đồng vay trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các giao dịch tín dụng ngân hàng như đã được phân tích, pháp luật về hợp đồng cho vay theo xu hướng phát triển chung phải được sửa đổi, bổ sung kịp thời đáp ứng các mục tiêu, nhu cầu nêu trên. Đó còn là định hướng, chiến lược phát triển của ngành ngân hàng được Nhà nước, với tư cách là cơ quan điều tiết, kiểm soát đặt ra, gắn với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh thực tế của Việt Nam hiện nay và sau này.
Tóm lại, cho vay là hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện trong tình trạng có nơi thừa vốn, nơi thiếu vốn khi nền kinh tế - xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định (do tách khỏi các quan hệ vay tài sản tự nhiên như ban đầu). Hoạt động này làm hình thành cơ chế giao dịch vay có những đặc điểm riêng, đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước thay vì để các bên tự giao dịch, tự giải quyết xung đột mâu thuẫn bằng các tập quán, đạo đức kinh doanh. Trong cơ chế này, ngân hàng làm đầu mối, giữ vai trò trung gian điều tiết nguồn vốn với chức năng kinh doanh sinh lời. Đồng thời, thực hiện chức năng xã hội đối với cộng đồng thông qua các quyền tiếp cận tín dụng được các nhà làm luật quan tâm, ngày càng củng cố hoàn thiện.
Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.