1. Tổ chức và nguyên tắc hoạt động của viện kiểm sát

Hệ thống viện kiểm sát nhân dân gồm có:

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

- Các viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh);

- Các viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là viện kiểm sát nhân dân cấp huyện);

- Các viện kiểm sát quân sự các cấp (Xem: Điêu 40 Luật tô chức viện kiêm sát nhân dân năm 2014).

Viện kiểm sát nhân dân do viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo của viện trưởng viện kiểm sát cấp trên. Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân địa phương, viện trưởng viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, xử lí nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật của viện kiểm sát cấp dưới. Viện trưởng viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, huỷ bỏ quyết định trái pháp luật của viện kiểm sát cấp dưới. Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân cấp cao, viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, viện kiểm sát quân sự trung ương, viện kiểm sát quân sự quân khu thành lập uỷ ban kiểm sát để thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng, cho ý kiến về các vụ án, vụ việc trước khi viện trưởng quyết định.

>> Xem thêm:  Cấu thành tội phạm là gì ? Cho ví dụ về cấu thành tội phạm ?

2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân trong to tụng hình sự

Điều 2 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định về chức năng nhiệm vụ của viện kiểm sát nhân dân đã xác định rõ: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất.

Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật. Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Yêu cầu khởi tố, huỷ bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do BLTTHS quy định;

- Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Huỷ bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện;

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;

- Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội;

- Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;

>> Xem thêm:  Tội phạm là gì ? Phân tích đặc điểm (dấu hiệu) của tội phạm ?

- Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;

- Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên toà;

- Kháng nghị bản án, quyết định của tòa án trong trường hợp viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của BLTTHS (Xem: Điều 3 Luật tổ chức viện kiểm sát năm 2014).

Kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Viện kiểm sảt nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp còn nhằm bảo đảm việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lí và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ; bảo đảm bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh và bảo đảm mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lí kịp thời, nghiêm minh.

Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu để viện kiểm sát nhân dân kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp;

- Trực tiếp kiểm sát; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp;

- Xử lí vi phạm; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lí nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm;

- Kháng nghị bản án, quyết định của toà án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của toà án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư phâp;

>> Xem thêm:  Dấu hiệu của tội phạm là gì ? Phân tích các đặc điểm (dấu hiệu) của tội phạm ?

- Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật (Xem: Điều 4 Luật tổ chức viện kiểm sát năm 2014).

Mọi vướng mắc pháp lý về tố tụng hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Hành vi khách quan của tội phạm là gì ? Đặc điểm của hành vi khách quan của tội phạm ?