1. Khái niệm truy tố

Truy tố là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó viện kiểm sát tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm đưa bị cạn ra trước toà án để xét xử hoặc ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.

Trong tố tụng hình sự, viện kiểm sát có nhiệm vụ thực hành quyền công tố nhà nước, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất đồng thời kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Quyền công tố nhà nước do viện kiểm sát thực hiện gồm nhiều quyền năng tố tụng, trong đó, quyền truy cứu trách nhiệm hình sự bị can ra trước toà án trong giai đoạn truy tố là quyền đặc trưng của viện kiểm sát. Quyền này được thực hiện bằng quyết định truy tố của viện kiểm sát sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố của cơ quan điều tra. Trong thực tế, để thực hiện tốt quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đôi với người phạm tội, pháp nhân phạm tội, viện kiểm sát phải tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án, giải quyết nhiều vấn đề phức tạp đặt ra trong thời hạn nhất định mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định đối VỚỊ từng loại tội phạm nhằm đảm bảo việc truy tố bị can là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, xác định đúng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân. Với nhiệm vụ riêng, cụ thể, chủ thể duy nhất thực hiện quyền này là viện kiểm sát, hoạt động truy tố có tính đặc thù riêng về hành vi tố tụng và văn kiện tố tụng áp dụng nên truy tố thực sự là giai đoạn độc lập của quá trình giải quyết vụ án hình sự.

2. Căn cứ pháp lý về thẩm quyền truy tố

Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (có hiệu lực pháp lý từ ngày 01/01/2018) quy định về thẩm quyền truy tố như sau:

“1. Viện kiểm sát cấp nào thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp đó quyết định việc truy tố. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án.

Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngày quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển vụ án cho Viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu đó Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.

Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiêm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật này.

2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác.

Việc giao, gửi hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 240 của Bộ luật này. Trong trường hợp này, thời hạn truy tố được tính từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được hồ sơ vụ án.”

3. Tầm quan trọng của việc quy định thẩm quyền truy tố

Đây là quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không có quy định về thẩm quyền truy tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát, trong khi Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể về thẩm quyền điều tra và thẩm quyền xét xử vụ án hình sự.

Sự thiếu vắng quy định này đã dẫn đến có một số quan điểm coi giai đoạn truy tố như là giai đoạn “chuyển tiếp” giữa giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử. Cách hiểu này hoàn toàn không đúng và không phù hợp với khoa học tố tụng hình sự. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”.

4. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát nhân dân các cấp

Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và viện kiểm sát quân sự khu vực có thẩm quyền truy tố khi các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự khu vực quy định tại khoản 1 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và viện kiểm sát quân sự quân khu có thẩm quyền truy tố khi các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của toà án nhân dân cấp tỉnh và toà án quân sự quân khu quy định tại khoản 2 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Thẩm quyền truy tố còn được xác định theo quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ tại Điều 269 và trong các trường hợp khác khi tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam (Điều 270 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) hoặc vụ án có nhiều đối tượng phạm tội thuộc thẩm quyền của các cấp khác nhau (Điều 271 Bộ luật hính ự năm 2015)

Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển vụ án cho viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.

Đối với vụ án do viện kiểm sát cấp trên thực hành quyên công tố và kiểm sát điều tra thì viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác. Việc thông báo với cơ quan điều tra bằng văn bản bảo đảm mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau, bảo đảm thực hiện các yêu cầu của viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố. Việc thông bạo cho những người tham gia tố tụng giúp họ biết được vụ án do cơ quan nào giải quyết, bảo đảm thực hiện được các nghĩa vụ cũng như thực hiện các quyền tố tụng của mình.

Việc giao, gửi hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 240 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong trường hợp này, thời hạn truy tố được tính từ ngày viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được hồ sơ vụ án.

5. Chuyển vụ án trong giai đoạn truy tố

Đồng thời với việc quy định thẩm quyền truy tố, điều lụật cũng quy định về vấn đề chuyển vụ án trong giai đoạn truy tố. Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển vụ án cho Viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.

Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án đề cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiêm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật này.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác.

Việc giao, gửi hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 240 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong trường hợp này, thời hạn truy tố được tính từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được hồ sơ vụ án.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát, điều tra vụ án hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê