Thưa luật sư, em tên là Thành Long, hiện đang là sinh viên năm 2 trường đại học luật. Em có nội dung bài tập cần được giải đáp ạ. Nội dung câu hỏi là “Pháp luật về cho vay, điều kiện cho vay tại tổ chức tín dụng”. Mong luật sư giải đáp giúp em. Em cảm ơn ạ!

1. Cơ sở pháp lý

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Thông tư 39/2016/TT-NHNN

Thông tư số 21/2017/TT-NHNN

2. Cho vay là gì?

Theo quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”

3. Sơ lược pháp luật về cho vay

Năm 1957, đối với loại cho vay ngắn hạn, ngành Ngân hàng chỉ được cho vay đôì với một số đôì tượng. Ví dụ, cho vay các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh theo 4 loại cho vay gồm: cho vay dự trữ vật tư trên mức tiêu chuẩn và các chi phí sản xuất theo mùa; cho vay để thanh toán; cho vay nhu cầu tạm thời và cho vay để sửa chữa lớn.

>> Xem thêm:  Công ty tài chính là gì ? Quy định pháp luật về công ty tài chính

Hoặc, cho các nông trường quốc doanh theo 6 loại cho vay gồm: cho vay dự trữ vật tư theo mùa, cho vay chi phí về trồng trọt và chế biến, cho vay chi phí về chăn nuôi, cho vay nhu cầu tạm thòi, cho vay sửa chữa lớn và cho vay thanh toán.

Hoặc, cho vay mậu dịch quốc doanh theo 5 loại gồm: cho vay để dự trữ hàng hóa theo kế hoạch và luân chuyển hàng hóa, cho vay ứng trước tiền đặt mua hàng, cho vay về nhu cầu tạm thời, cho vay thanh toán và cho vay sửa chữa lớn. “Đơn vị mậu dịch phải thanh toán xong số nợ quá hạn rồi mới được xin vay khoản khác”.

Vào thời gian này, ngành Ngân hàng chủ yếu cho vay theo kế hoạch và chỉ đạo của Nhà nước.

Từ tháng 01/1996 hoạt động cho vay của các tổ chức ngân hàng, tín dụng, công ty tài chính và hoạt động cho vay vốn của các cơ sở khác được pháp luật cho phép (trừ hoạt động kinh doanh cầm đồ) không phải nộp thuế doanh thu (nay là thuế giá trị gia tăng). (Khoản 4 Điều 2 Luật Thuế doanh thu năm 1990)

Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004) đã từng quy định: khách hàng vay vốn có quyền “khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ” của tổ chức tín dụng. Điều này chỉ phù hợp với trường hợp cho vay theo chính sách, chứ không đúng với quan hệ tự nguyện giữa khách hàng và ngân hàng.

Từ tháng 10/2000 đến tháng 4/2011, pháp luật cho phép việc huy động vốn và cho vay bằng vàng

Trong giai đoạn 1998 - 2016, quy định về cho vay được gọi là quy chế, đồng thời ban hành một văn bản chung cho các lĩnh vực và thời hạn vay.

Riêng Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN có hiệu lực kéo dài 15 năm do không được xử lý thay đổi kịp thời, với nhiều quy định trái luật và 5 lần sửa đổi, bổ sung.

Các tổ chức được phép hoạt động cho vay chuyên nghiệp gồm: các tổ chức tín dụng (bao gồm các tổ chức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép là ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng hợp tác xã, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô); các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng nhưng cũng được phép hoạt động cho vay chuyên nghiệp như Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB), quỹ đầu tư phát triển địa phương (Bộ Tài chính quản lý); dịch vụ cầm đồ (Bộ Công an quản lý về điều kiện kinh doanh).

Trước năm 2005, khách hàng vay vốn của các tổ chức tín dụng, ngoài cá nhân và pháp nhân, còn có hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp doanh (tại thời điểm đó chưa có tư cách pháp nhân).

>> Xem thêm:  Ngân hàng chính sách xã hội là gì ? Mức lãi suất của ngân hàng chính sách xã hội

Từ năm 2005 trở đi, Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định, khách hàng vay vốn là cá nhân và pháp nhân (khoản 1 Điều 1 quyết định 127/2005/QĐ – NHNN), tuy nhiên trên thực tế vẫn xảy ra hiện tượng cho vay cả các tổ chức không có tư cách pháp nhân.

Từ ngày 15/3/2017, khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng chỉ gồm hai nhóm là pháp nhân và cá nhân (khoản 3 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN). Điều này là hoàn toàn phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ thể giao dịch dân sự chỉ còn pháp nhân và cá nhân. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Tuy nhiên, bên cạnh quy định trên của Bộ luật Dân sự năm 2015 còn rất nhiều đạo luật và văn bản dưới luật hiện hành quy định về tư cách pháp lý và việc tham gia vào giao dịch của các chủ thể là hộ gia đình, hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, v.v… Vì vậy, cách xử lý hợp lý nhất là vẫn ghi đúng tên gọi của các chủ thể này là các tổ chức đã được pháp luật thừa nhận, nhưng bản chất quan hệ thì phải xử lý với tư cách của một hoặc toàn bộ các cá nhân trong tổ chức. Theo đó doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức chỉ có một cá nhân cũng như hộ gia đình hay hộ kinh doanh chỉ có một thành viên thì cả hình thức và nội dung pháp lý vẫn không có gì thay đổi so với trưóc đó. Bằng chứng là từ trước đến nay pháp luật đều quy định chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật, là nguyên đơn hoặc bị đơn tham gia tố tụng và phải chịu trách nhiệm đến cùng (trách nhiệm vô hạn) đối với nghĩa vụ của doanh nghệp tư nhân.

4. Pháp luật về điều kiện cho vay

Khác với pháp luật dân sự, thương mại nói chung, pháp luật ngân hàng quy định khá chặt chẽ về điều kiện cho vay của các tổ chức tín dụng. Vì việc cho vay của ngân hàng giống như việc bán chịu hàng hóa, đôi khi được ví như cầm dao đằng lưỡi, có nhiều rủi ro ảnh hưởng đến an toàn hệ thống ngân hàng.

4.1. Pháp luật về chủ thể vay

Năm 1992, để đề phòng rủi ro, bên vay vốn của các ngân hàng bảo đảm giá trị theo giá vàng là các tổ chức kinh tế cần mua bảo hiểm nhà nước. (Điều 9 Quyết định số 42/QĐ-NH1)

Ngân hàng Nhà nước cũng đã giải thích, khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng chỉ là pháp nhân, cá nhân. Đối với tổ chức không có tư cách pháp nhân như tổ hợp tác, hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân thì tổ chức tín dụng xem xét cho vay đối với cá nhân (một hoặc một số cá nhân).

Việc cho vay phục vụ nhu cầu đời sống của tổ chức tín dụng nhằm thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân vay vốn và có thể gồm cả gia đình của cá nhân vay vốn. Trong trường hợp này, gia đình của người vay vốn được xác định là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. (khoản 2 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014)

4.2. Nguyên tắc cho vay và vay vốn

Pháp luật quy định nguyên tắc cho vay và vay vốn, từ cả hai phía là tổ chức tín dụng và khách hàng như sau:

Thứ nhất, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thực hiện theo thỏa thuận giữa hai bên, phù hợp vói quy định của pháp luật có liên quan, bao gồm cả pháp luật về bảo vệ môi trường.

>> Xem thêm:  Xác nhận thông tin để người khác vay tiền trả góp?

Pháp luật gần như không hạn chế mọi cá nhân, doanh nghiệp, pháp nhân giao dịch, đặc biệt là vay vốh ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng dù không muốn vẫn phải nắm bắt, thẩm định và kiểm soát việc thực thi đúng các quy định pháp luật trong mọi lĩnh vực, ngành nghề liên quan để bảo đảm an toàn cao nhất tiền cho vay của mình và tiền gửi của công chúng;

Thứ hai, khách hàng vay vốn tổ chức tín dụng phải bảo đảm sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thòi hạn đã thỏa thuận với tổ chức tín dụng.

4.3. Điều kiện xét duyệt vay vốn

Pháp luật ngân hàng quy định, tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây: (Điều 7, khoản 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN)

Thứ nhất, khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật;

Thứ hai, nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp (được hiểu là không phải là bất hợp pháp);

Thứ ba, có phương án sử dụng vốn khả thi;

Thứ tư, có khả năng tài chính để trả nợ;

Thứ năm, có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh theo đánh giá của tổ chức tín dụng, trong trường hợp khách hàng vay vốn ngắn hạn bằng đồng Việt Nam được hưởng mức ưu đãi về lãi suất không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn sau đây:

+ Phục vụ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;

+ Thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu theo quy định tại Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn Luật Thương mại;

>> Xem thêm:  Cho vay với lãi suất 1.5 % trên một tháng có vi phạm pháp luật không?

+ Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa;

+ Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo quy định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ;

+ Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Luật Công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn Luật Công nghệ cao.

Khách hàng vay vốn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn, đồng thời phải cung cấp cho tổ chức tín dụng các tài liệu chứng minh đủ điều kiện vay vốn và các tài liệu khác do tổ chức tín dụng hướng dẫn, kể cả cho vay vốh cầm cố bằng tiền gửi tiết kiệm, vì cầm cố tiền gửi tiết kiệm để vay vôn là một biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật.

Như vậy, khi có nhu cầu vay vốn khách hàng không còn phải gửi cho các tổ chức tín dụng “Giấy đề nghị vay vốn” như quy định trong nhiều năm trước kia.

Tổ chức tín dụng căn cứ vào phương án sử dụng vốn, khả năng tài chính của khách hàng, các giới hạn cấp tín dụng và khả năng nguồn vốn để thỏa thuận với khách hàng về mức cho vay (Điều 12 Thông tư 39/2016/TT-NHNN)

Các tổ chức tín dụng phải tuân thủ quy định về việc giải ngân không dùng tiền mặt (Thông tư số 21/2017/TT-NHNN)

Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm và pháp luật có liên quan. Tổ chức tín dụng quyết định và chịu trách nhiệm về việc cho vay không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay.

Trên đây là nội dung tư vấn về "Pháp luật về cho vay và điều kiện vay vốn tại tổ chức tín dụng".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bị nợ xấu nhóm 5 ở ngân hàng phải làm thế nào để được vay thêm theo quy định mới?

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)

>> Xem thêm:  Cầm đồ tài sản không chính chủ và trách nhiệm trả tiền thuộc về ai ? Kinh doanh dịch vụ cầm đồ

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Có bắt buộc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay không?

Trả lời:

Pháp luật ngân hàng không bắt buộc phải áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay, vấn đề này sẽ do thỏa thuận giwuax ngân hàng và bên vay vốn. Xem thêm tại Điều 15 Thông tư 39/2016/TT-NHNN

Câu hỏi: Biện pháp bảo đảm tiền vay là gì?

Trả lời:

Đảm bảo tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp trong phạm vi luật cho phép để bảo đảm thu hồi nợ của bên đi vay trong thời hạn tín dụng đã được xác định giữa Tổ chức tín dụng và khách hàng.

 

Câu hỏi: Các hình thức bảo đảm tiền vay là gì?

Trả lời:

Biện pháp bảo đảm tiền vay không bằng tài sản: Bảo lãnh, tín chấp

Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản: cầm cố, thế chấp bằng tài sản của bên vay và thế chấp bằng tài sản của bên thứ 3.