Luật sư tư vấn:

1. Pháp nhân có phải chịu trách nhiệm hình sự ?

Trong những năm gần đây, tình hình vi phạm pháp luật của pháp nhân thương mại diễn ra rất phức tạp với số lượng vụ vi phạm ngày càng tăng, thủ đoạn rất tinh vi, đã và đang gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho xã hội, đặc biệt là các hành vi gây ô nhiễm môi trường; buôn lậu; vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới; sản xuất, buôn bán hàng giả; trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; trốn thuế; vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng...

Pháp luật đã quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đoi với pháp nhân thương mại về các hành vi vi phạm trên và cũng có nhiều quy định khác là cơ sở pháp lí quan trọng để người dân, tổ chức căn cứ vào đó mà có thể khởi kiện pháp nhân thương mại và buộc chủ thể này phải bồi thường những thiệt hại mà họ đã gây ra. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định này còn nhiều bất cập, tính khả thi và hiệu quả kém vì nhiều lí do khác nhau: Chế tài hành chính không đủ sức răn đe; thủ tục kiện đòi bồi thường thiệt hại của người dân đối với pháp nhân thương mại phức tạp như quy định về nghĩa vụ chứng minh, nguyên nhân và mức độ thiệt hại do các hành vi của pháp nhân thương mại gây ra hoặc quy định về án phí dân sự... Từ đó đòi hỏi cần phải quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

Có thể nói, việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là xu thế chung của các nước trên thế giới, trong đó có các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hiện nay. Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong BLHS là cơ sở pháp lí để xừ lí những pháp nhân thương mại vì lợi nhuận mà vi phạm pháp luật của Nhà nước, xâm hại tính mạng, sức khoẻ của người dân, xâm hại trật tự quản lí kinh tế, lũng đoạn thị trường, qua đó tạo sự bình đẳng trong việc xử lí pháp nhân thương mại phạm tội, tránh bỏ lọt tội phạm. Bên cạnh đó, việc quy định này còn là sự nội luật hoá những cam kết, những nghĩa vụ quốc tế bắt buộc mà Việt Nam là quốc gia thành viên, trong đó có Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Như vậy, việc Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

2. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại là hành vi của một người hoặc một số người đang thuộc biên chế của tổ chức kinh tế mà theo pháp luật thì tổ chức kinh tế này là pháp nhân thương mại. Nếu họ không phải trong tổ chức kinh tế được công nhận là pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội của họ không phải là hành vi của pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, nếu một người được pháp nhân thương mại ký hợp đồng hay uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân thương mại giao và khi thực hiện họ nhân danh pháp nhân thương mại đã ký hợp đồng hoặc uỷ quyền cho họ thì hành vi phạm tội của người này vẫn là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại mà họ ký hợp đồng hoặc được uỷ quyền.

– Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại: Khi một người hoặc một số người thực hiện hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại giao hoặc uỷ quyền đều vì lợi ích của pháp nhân thương mại chứ không vì lợi ích cá nhân của họ. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội họ lại lợi dụng pháp nhân thương mại để thực hiện thêm hành vi vì lợi ích cá nhân thì chỉ hành vi nào vì lợi ích của pháp nhân thương mại mới buộc pháp nhân thương mại phải chịu, còn hành vi nào vượt ra ngoài lợi ích của pháp nhân thương mại mà vì lợi ích cá nhân họ thì họ phải chịu.

– Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại: Hành vi phạm tội của một hoặc một số người phải có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Sự chỉ đạo điều hành là sự chỉ đạo của những người đứng đầu hoặc của một tập thể pháp nhân thương mại như: Giám đốc, Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc của công ty.Sự chỉ đạo, điều hành này cũng tương tự như trường hợp phạm tội có tổ chức mà người tổ chức là người chỉ đạo điều hành mọi hành vi của tất cả các đồng phạm khác. Ngoài sự chỉ đạo, điều hành của những người nhân danh pháp nhân thương mại còn có trường hợp tuy không có sự chỉ đạo, điều hành nhưng lại có sự chấp thuận của những người đứng đầu pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội cũng là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại.

– Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuỳ thuộc vào tội phạm mà pháp nhân thương mại thực hiện: 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

3. Phạm vi chịu TNHS của pháp nhân.

Theo quy định tại Điều 76 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm quy định tại các điều: Tội buôn lậu; tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; tội sản xuất, buôn bán hàng cấm; tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; tội sản xuất, buôn bán hàng giả; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; tội đầu cơ; tội trốn thuế; tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán; tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán; tội thao túng thị trường chứng khoán; tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm; tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; tội vi phạm quy định về cạnh tranh; tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã. Trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa được sửa đổi, bổ sung thì chỉ có 31 tội danh mà pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì ngoài 31 tội danh đã được quy định trong Bộ luật hình sự thì Quốc hội đã bổ sung thêm 2 tội, đó là tội tài trợ khủng bố và tội rửa tiền. Như vậy, tổng số tội danh mà pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự là 33 tội.

4. Hình phạt đối vói pháp nhân thương mại khi pháp nhân thương mại phạm tội.

Hình phạt chính:

Phạt tiền:Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội.Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng;

Đình chỉ hoạt động có thời hạn: đình chỉ hoạt động của pháp nhân trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế. Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm;

Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn: chấm dứt hoạt động của thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả đó. Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ mọi hoạt động..

Hình phạt bổ sung:

Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội.Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động.Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội.Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm:

+ Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư;

+ Cấm phát hành, chào bán chứng khoán;

+ Cấm huy động vôn khách hàng;

+ Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước;

+ Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.

Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Phạt tiền: áp dụng trong trường hợp không được áp dụng là hình phạt chính.

Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung. Các hình phạt nhìn chung chủ yếu tác động vào lợi ích kinh tế, tài chính của pháp nhân.

5. Tại sao luật hình sự năm 2015 lại quy định TNHS với pháp nhân ?

BLHS năm 2015 đã quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nhưng việc quy định này đang còn nhiều vấn đề vướng mắc. “.. nhận thức lý luận và thực tiễn thiết kế quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhấn... có sự lúng túng nhất định”. Chính sự “lúng túng” này đã dẫn đến hệ quả BLHS được ban hành khi giữa các điều luật quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại còn có nhiều mâu thuẫn. Đó là một trong nhiều lý do dẫn đến BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung khi chưa được áp dụng. Trong giai đoạn BLHS này được sửa đổi, bổ sung, sự “lúng túng” càng được bộc lộ rõ và thể hiện ở cả phía đề nghị sửa đổi, bổ sung các điều luật liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại cũng như ở phía phải xử lý việc sửa đổi, bổ sung này. Các ý kiến đê' nghị sửa đổi, bổ sung liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại có sự trái ngược nhau; dự thảo nội dung sửa đổi, bổ sung về vấn đê' này luôn thay đổi. Điều đáng suy nghĩ là sau khi đã được sửa đổi, bổ sung tương đối nhiều, mâu thuẫn giữa các điều luật hên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại không những không được giải quyết mà còn phát sinh thêm.

Nguyên nhân của tình trạng này là do chưa có nhận thức rõ ràng, thống nhất về bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân - Quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là bổ sung loại tội phạm thứ hai hay chỉ là bổ sung chủ thể thứ hai phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà chủ thể thứ nhất (con người/thể nhân) đã thực hiện? Có hai loại tội phạm - Tội phạm do thể nhân thực hiện và tội phạm do pháp nhân thực hiện hay vẫn chỉ có một loại tội phạm là tội phạm do thể nhân thực hiện? Và từ đó dẫn đến cầu hỏi có tính kỹ thuật nhưng rất quan trọng: Cần có hai hệ thống các quy định hay vẫn chỉ cẩn một hệ thống quy định như vẫn có (quy định chung về tội phạm, về trách nhiệm hình sự cũng như quy định vê' tội phạm cụ thể) và chỉ cần bổ sung một số điều luật để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân?

Do dựa trên nhận thức không thống nhất này nên mâu thuẫn giữa các quy định vê' trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đã được xây dựng trong BLHS năm 2015 là không thể tránh khỏi. Trong đó, điển hình và rõ nhất là mâu thuẫn giữa khoản 1 Điều 75 với khoản 2 Điều 2 và khoản 1 Điều 8 BLHS. Khoản 2 Điều 2 và khoản 1 Điều 8 cùng thể hiện quan điểm có tội phạm thứ hai là tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện...” nhưng khoản 1 Điều 75 lại thể hiện quan điểm chỉ có chủ thể thứ hai phải chịu trách nhiệm hình sự khi quy định một trong các điểu kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là “Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại”. Chính sự không thống nhất này dẫn đến sự trái ngược trong các ý kiến để xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Để bảo vệ quan điểm có tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện, ý kiến đề xuất muốn bổ sung nội dung của các điểu luật vê' tội phạm trong BLHS vì các điểu luật này mới chỉ thể hiện nội dung vê' tội phạm do cá nhân thực hiện như Điều 9 (Phân loại tội phạm) và Điều 17 (Đồng phạm)... Trái lại, để bảo vệ quan điểm chỉ có chủ thể thứ hai phải chịu trách nhiệm hình sự là pháp nhân thương mại mà không có tội phạm thứ hai là tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện, ý kiến đê' xuất muốn sửa các điểu luật thể hiện nội dung có tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện, trước hết là bỏ nội dung “hoặc pháp nhân thương mại” trong khoản 1 Điều 8 BLHS.

Cũng do không rõ ràng trong nhận thức về bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân nên việc tiếp thu các ý kiến trái ngược để sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại có tính thụ động. Theo đó, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điểu của BLHS năm 2015 có hai nội dung bổ sung theo hướng thể hiện quan điểm có tội phạm thứ hai là tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện. Đó là bổ sung khoản 2 Điều 9 có nội dung về phân loại tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện và bổ sung khoản 5 Điều 17 có nội dung về đồng phạm của pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, chỉ có khoản 2 Điều 9 được thông qua nhưng nội dung của khoản này là lặp lại nội dung của khoản 1.

Như vậy, kết quả việc sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS vê' trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đã không giải quyết được các mâu thuẫn giữa các điều luật, không thể hiện BLHS theo quan điểm thống nhất nào vê' bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

Chỉ khi có cơ sở lý thuyết thống nhất, hợp lý và rõ ràng thì mới có thể đánh giá các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong BLHS năm 2015 một cách thống nhất và từ đó mới có thể có phương án sửa đổi, bổ sung thống nhất và hợp lý.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê