1. Thành lập Ủy ban Quyền con người quốc gia

Trước tiên, hãy xem xét sự hình thành của một cơ chế cụ thể, đó là việc thành lập uỷ ban Quyền con người quốc gia, đây được xem như cơ chế bảo đảm nhân quyền quốc gia. Cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của cơ chế này có thể do Hiến pháp quy định, có thể được quy định bởi một đạo luật cụ thể, có thể được thành lập theo nghị quyết của nghị viện, hoặc được quyết định bởi người đứng đầu quốc gia, v.v... ở các quốc gia khác nhau thì việc xác định cơ sở pháp lý cũng khác nhau. Như thế, yếu tố hết sức quan trọng tham gia vào quá trình hình thành cơ chế bảo đảm quyền con người đó là cơ sở pháp lý, biểu hiện ra bằng các quyết định, quy định, nghị quyết,... có tính chất pháp lý.

Có thể thấy, việc xác lập cơ sở pháp lý cho sự ra đời của một cơ chế gắn liền với các chủ thể như Nhà nước, Quốc hội (cơ quan lập pháp), v.v... nói rộng ra là cộng đồng quốc tế (Liên hợp quốc) và khu vực (châu Âu, châu Á, châu Phi, hay khu vực Đông Nam Á, v.v...). Nhưng hiến pháp, pháp luật, các điều luật, các đạo luật, mặc dù được các chủ thể nói trên xây dựng, lại là sự phản ánh ý chí và nguyện vọng của người dân. Nói cách khác, việc hình thành cơ chế bảo đảm quyền con người ở bất kỳ cấp độ nào trước hết đều xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi bảo vệ, bảo đảm quyền con người. Trước những nhu cầu và đòi hỏi có tính chất khách quan đó, các chủ thể quyền con người (ở đây là hệ thống chính trị, Quốc hội, Nhà nước, v.v...) phải xem xét, tìm kiếm các biện pháp, cách thức trên cơ sở cho phép của khung pháp lý nhằm đảm bảo quyền con người. Có thể khái quát quá trình hình thành cơ chế bảo đảm quyền con người qua sơ đồ dưới đây:

2. Các chủ thể đóng vai trò trung tâm trong quá trình hình thành cơ chế

Căn cứ vào phân tích trên đây có thể thấy quá trình hình thành cũng như các nhân tố tác động đến quá trình hình thành và hoạt động của cơ chế bảo đảm quyền con người.

Đầu tiên, có thể thấy các chủ thể đóng vai trò trung tâm trong quá trình hình thành cơ chế bảo đảm quyền con người. Các chủ thể ở đây có chủ thể quốc tế, chủ thể khu vực, chủ thể quốc gia,... Chủ thể quốc tế góp phần tạo nên cơ chế quốc tế, chủ thể khu vực tạo nên cơ chế khu vực, chủ thể quốc gia tạo nên cơ chế quốc gia. Đóng vai trò là trung tâm, nhưng các chủ thể này không thể tùy tiện, chủ quan xây dựng nên các cơ chế bảo đảm quyền con người, mà phải căn cứ vào các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, cơ sở pháp lý (Hiến pháp, Luật, v.v...). Trong quá trình hình thành cơ chế bảo đảm quyền con người, các chủ thể trước hết căn cứ vào nhu cầu, yêu cầu, ý nguyện bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, đồng thời căn cứ vào các điều kiện như vừa nêu trên. Các chủ thể này cũng đóng vai trò là người kiểm tra, đánh giá, giám sát sự vận hành, hoạt động của các cơ chế đó, khi các cơ chế đó không hiệu quả thì các chủ thể có thể sửa đổi, điều chỉnh, thậm chí là xóa bỏ cơ chế đó và thay vào cơ chế khác.

3. Các chủ thể tiến hành xây dựng các cơ chế

Tiếp đến, các chủ thể tiến hành xây dựng các cơ chế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, trong quá trình này ngoài các căn cứ, tiền đề, cơ sở không thể thiếu như vừa trình bày ở trên, còn có sự tác động, tham gia của giới truyền thông, các nhóm lợi ích, các tổ chức xã hội dân sự cũng như sự tham gia, phản biện của người dân?...

Khi các cơ chế được hình thành đi vào hoạt động, thì không có nghĩa quá trình hình thành cơ chế bảo đảm quyền con người đã chấm dứt, bởi trong quá trình vận hành của cơ chế, có thể có những cơ chế chưa đạt hiệu quả, hoặc có một hay vài yếu tố nào đó của cơ chế chưa phù hợp, chưa ăn khớp thì sẽ có sự điều chỉnh cho phù hợp, nhằm đạt đến sự vận hành hợp lý, “trơn tru,, của cơ chê' và cuối cùng là nhằm đạt được sự bảo đảm quyền con người ngày càng tốt hơn.

4. Các bước hình thành cơ chế bảo đảm quyền con người

Có thể khái quát quá trình hình thành cơ chế bảo đảm quyền con người thành bốn bước cơ bản, đó là:

Thứ nhất, xuất hiện cốc nhu cầu, yêu cầu, ý nguyện bảo đảm, thúc đẩy quyền con người. Đó là những nhu cầu, yêu cầu, ý nguyện của các chủ thể mang quyền ở nhiều phạm vi khác nhau: quốc tế, khu vực, quốc gia, v.v... Những nhu cầu này xuất phát từ thực tiễn bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người.

Thứ hai, các nhu cầu, yêu cầu, ý nguyện đó tác động đến các chủ thể, thúc đẩy các chủ thể xây dựng cơ chế bảo đảm quyền con người. Nói cách khác, các chủ thể góp phần biến các nhu cầu, ý nguyện trên thành hiện thực. Vai trò của các chủ thể ở đây là rất lớn, bởi các chủ thể quyết định việc xây dựng cơ chế như thế nào, xây dựng cơ chế gì? phương thức hoạt động của các cơ chế ra sao?...

Thứ ba, tiếp theo chủ thể tiến hành xây dựng các cơ chế bảo đảm quyền con người. Việc xây dựng này thể hiện trên các khía cạnh: xác lập các yếu tổ’, bộ phận cấu thành của cơ chế và xác lập các nguyên tắc, quy tắc hay cách thức hoạt động.

Thứ tư, vận hành cơ chế bảo đảm quyền con người.

5. Các nhân tố ảnh hưởng

Qua phần trên, cũng có thể thấy các yếu tố tác động đến quá trình hình thành và hoạt động của các cơ chế bảo đảm quyền con người. Trước hết, đó là các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, truyền thông, lối sống, tâm lý xã hội,... Bất kỳ cơ chế bảo đảm quyền con người nào đều không thể là sản phẩm ngẫu nhiên, mà là sản phẩm của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá,... hoặc là sản phẩm của các hoàn cảnh lịch sử nhất định. Những điều kiện, tiền đề đó góp phần tạo nên nét đặc thù trong cơ chế của khu vực này so với khu vực khác, quốc gia này so với quốc gia khác... Do đó mà cơ chế bảo đảm quyền con người ở châu Âu có nét khác biệt so với cơ chế bảo đảm quyền con người ở châu Phi hay châu Mỹ. Một yếu tố khác có ảnh hưởng đến quá trình hình thành và hoạt động của các cơ chế bảo đảm quyền con người đó là cơ sở pháp lý và các thiết chế như Toà án, Viện kiểm sát,... Cơ sở pháp lý bao gồm Hiến pháp, Luật,... ở phạm vi quốc tế và khu vực đó là Hiến chương Liên hiệp quốc, các Công ước quốc tế. Trong số các yếu tố tác động đến quá trình hình thành và hoạt động của các cơ chế bảo đảm quyền con người thì cơ sở pháp lý có thể coi như là yếu tố có vai trò quan trọng nhất. Bởi đây là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất để xây dựng cơ chế bảo đảm quyền con người. Thậm chí có thể nói, nếu chưa có cơ sở này thì các cơ chế bảo đảm quyền con người cũng khó có thể hình thành được. Ngoài ra, các yếu tố như phương tiện truyền thông đại chúng, tiếng nói của người dân, sự tham gia phản biện của các tổ chức xã hội dân sự, các nhóm lợi ích cũng góp phần vào quá trình hình thành cũng như hoạt động của các cơ chế bảo đảm quyền con người.

6. Tìm hiểu về Thanh tra Quốc hội (Ombudsman)

Bên cạnh mô hình có tính quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người như ủy ban Quyền con ngưồi quốc gia (National Commissions of Human Rights), nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã hình thành được Thanh tra Quốc hội (Ombudsman).

Cơ chế Ombudsman xuất hiện đầu tiên tại Nghị viện Thụy Điển vào năm 1809. Thuật ngữ “Ombudsman” có nguồn gốc từ tiếng Thụy Điển (có nghĩa là người đại diện). Tại một số quốc gia, Ombudsman tương đương với thanh tra Quốc hội hoặc thanh tra nhà nước. Ombudsman có một bộ máy giúp việc, thường gọi là Văn phòng Ombudsman.

Nói chung, chức năng chủ yếu của Ombudsman là giám sát sự công bằng và hợp pháp của bộ máy hành chính công. Cụ thể, văn phòng Ombudsman có trách nhiệm bảo vệ quyền của những người là nạn nhân của những hành vi, quyết định của cơ quan hành pháp. Do đó, ở các nước có định chế này, Ombudsman thường được coi là trung gian hòa giải giữa cá nhân có quyền bị xâm phạm với chính quyền. Hiện tại, một số quốc gia trên thế giới đã thành lập Ombudsman như là một cơ chế quốc gia để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người (Danmark, Sweden, Austria, Spain, Venezuela …)

Quy trình hoạt động của Ombudsman ở các quốc gia tương đối giống nhau. Ombudman nhận khiếu nại từ công chúng và tiến hành điều tra nếu vụ việc thuộc thẩm quyền của mình. Ở một số quốc gia, người dân có thể gửi đơn khiếu nại trực tiếp đến văn phòng Ombudsman, nhưng ở một số quốc gia khác, người dân chỉ có thể gửi qua trung gian như thông qua các nghị sỹ quốc hội ở địa phương. Các đơn khiếu nại thường được giữ bí mật danh tính và Ombudman không được tiết lộ về người khiếu nại nếu chưa được sự đồng ý của họ.

Không chỉ giải quyết các vụ việc khi được yêu cầu, giống như các ủy ban quyền con người quốc gia, ở nhiều nước, Ombudsman còn có thẩm quyền chủ động tiến hành điều tra những vi phạm quyền con người trên phạm vi rộng hoặc thu hút sự quan tâm lớn của công chúng. Nhìn chung, thẩm quyền của Ombudsman và ủy ban quyền con người quốc gia có nhiều điểm giống nhau liên quan đến tiếp nhận và giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, hai cơ chế này vẫn có những điểm khác biệt (đó là lý do mà một số quốc gia có cả hai loại cơ chế, ví dụ như Đan Mạch). Sự khác nhau thể hiện ở chỗ Ombudsman chủ yếu đảm bảo công bằng và pháp chế trong quản lý hành chính, trong khi các ủy ban quyền con người quốc gia chủ yếu quan tâm đến những vi phạm quyền con người ở phạm vi rộng hơn, đặc biệt là các vi phạm liên quan đến vấn đề phân biệt đối xử. Thêm vào đó, Ombudsman chủ yếu tập trung vào những vi phạm quyền con người của các cơ quan và viên chức nhà nước, trong khi các ủy ban quyền con người quốc gia quan tâm cả đến cả các vi phạm quyền con người của các cá nhân và chủ thể tư nhân.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)