- 1. Các điều ước quốc tế
- 2. Pháp luật Việt Nam
- 3. Các Công ước mà Việt Nam đang xem xét tham gia
- 4. Một số gải pháp để ngăn chặn, khắc phục và xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường
- 4.1. Các giải pháp về cơ chế chính sách
- 4.2. Xác đinh ưu tiên bảo vệ môi trường của ngành hàng hải
- 4.3. Các giải pháp kiểm soát, giảm thiểu, xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động hàng hải
- 4.4. Các giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về Bảo vệ môi trường nói chung và môi trường nói riêng
- 4.5. Các giải pháp về quản lí
- 4.6. Các giải pháp về kỹ thuật
- 4.7. Các giải pháp về cơ chế tài chính
1. Các điều ước quốc tế
Một số Công ước quốc tế Việt Nam đã tham gia ký kết. Để ngăn chặn ô nhiễm, thực hiện bảo vệ môi trường biển chung, rất nhiều các văn bản pháp lý quốc tế về bảo vệ môi trường hoặc liên quan đến bảo vệ môi trường được cộng đồng quốc tế xây dựng và được các quốc gia ký kết, Việt Nam đã phê chuẩn các điều ước quốc tế khác nhau nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, ví dụ như:
Công ước Marpol 73/78 về ngăn chặn ô nhiễm biển do tàu gây ra (Việt Nam tham gia ngày 29/8/1991);
Công ước quốc tế về an toàn tính mạng trên biển SOLAS 1974 (Việt Nam tham gia ngày 18/3/1991);
Công ước Luật biển 1982 (Việt Nam tham gia ngày 16/11/1994);
Công ước về các quy tắc quốc tế phòng tránh đâm va trên biển COLREG 1972 (Việt Nam tham gia ngày 18/12/1990);
Công ước về tiêu chuẩn cấp chứng chỉ cho thuyền viên 1978/1995 (STCW) (Việt Nam tham gia ngày 18/3/1991);
Công ước về kiểm soát và vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng BASEL 1989 (Việt Nam tham gia ngày 11/6/1995);
Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu 1969 (CLC 1969).
Việt Nam là quốc gia lớn trong khu vực Đông Nam Á. Diện tích các vùng biển của Việt Nam lớn gấp 3 lần đất liền.Tài nguyên biển của Việt Nam vô cùng phong phú.Tuy nhiên, biển Việt Nam cũng đang đứng trước những thách thức rất lớn về ô nhiễm môi trường biển. Trong các nguồn ô nhiễm môi trường biển thì ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền, ô nhiễm từ tàu thuyền, đặc biệt là ô nhiễm dầu, ô nhiễm từ các hoạt động liên quan đến đáy biển và ô nhiễm do nhận chìm là những nguồn ô nhiễm chính. Do đó, các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đã tham gia, đã phê chuẩn cũng nhằm góp phần chế ngự, giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ nguồn ô nhiễm trên. Bên cạnh đó, việc tham gia các công ước trên là phù hợp với điều kiện của Việt Nam, mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam.Việc thực thi các công ước đó cũng góp phần giữ gìn và bảo vệ môi trường biển Việt Nam, môi trường biển của khu vực và trên thế giới.
2. Pháp luật Việt Nam
Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 với tư cách là văn bản chứa đựng tư tưởng pháp lý và chính trị có giá trị cao nhất đã quy định: mọi người đều có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ BVMT (Điều 43); tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại. Đây là các quy định quan trọng được ghi nhận trong Hiến pháp, là nền tảng hình thành các luật và văn bản dưới luật về BVMT.
Luật BVMT được ban hành năm 2014 dành một chương riêng quy định về “BVMT biển và hải đảo”, bao gồm quy định về nguyên tắc BVMT biển, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển, kiểm soát xử lý ô nhiễm môi trường biển và tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố. So với quy định trong Luật BVMT năm 2005 (BVMT biển được quy định thành 1 mục) thì các quy định về BVMT biển trong Luật BVMT năm 2014 đã thể hiện rõ tầm quan trọng của việc tiến hành kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục các sự cố ô nhiễm môi trường biển, trong đó bao gồm cả môi trường bị ô nhiễm từ dầu và các chất thải khác. Mọi tổ chức, cá nhân khi thăm dò tìm kiếm, khai thác và vận chuyển, tàng trữ và chế biến dầu khí phải áp dụng các công nghệ phù hợp, thực hiện đầy đủ các biện pháp cần thiết để BVMT, có phương án phòng tránh rò rỉ dầu, cũng như sự cố tràn dầu.
Trong lĩnh vực khắc phục ô nhiễm, luật môi trường Việt Nam ghi nhận nguyên tắc: “Người gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”. Nguyên tắc chuyên ngành này được hình thành từ nguyên tắc pháp luật chung “đã gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 đã khẳng định bảo vệ, tái tạo, phát triển bền vững môi trường biển gắn với bảo đảm kinh tế là một nguyên tắc quan trọng và được thể hiện trong 6 điều về BVMT biển của Luật này. Bộ luật Hàng hải đã có nhiều quy định cụ thể hóa các điều khoản của Công ước MARPOL 73/78 về giấy chứng nhận phòng ngừa ô nhiễm; việc kiểm tra, kiểm soát và cấm vào cảng các tàu không đủ điều kiện phòng ngừa ô nhiễm; việc kiểm tra, kiểm soát và cấm vào cảng các tàu không đủ điều kiện phòng ngừa ô nhiễm; nghĩa vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc về ô nhiễm môi trường từ các tàu dầu (Điều 300). Đặc biệt, Luật này quy định hành vi gây ô nhiễm biển không được giới hạn trách nhiệm dân sự, khi tàu gây ra sự cố tràn dầu việc truy cứu trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại sẽ được thực hiện theo Công ước về Trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại ô nhiễm dầu (CLC 69/72), nếu tàu gây ra sự cố tràn dầu là tàu dầu và dầu tràn là dầu nặng khó phân hủy. Bộ luật Hàng hải còn nhấn mạnh: việc khiếu nại về môi trường là cơ sở phát sinh quyền bắt giữ tàu biển (Điều 139 Mục 2, Chương VI) để đảm bảo công tác quản lý và xử lý kịp thời các hành vi gây ô nhiễm môi trường biển Việt Nam.
Luật Dầu khí Việt Nam năm 2013 quy định các chủ thể tham gia hoạt động dầu khí phải sử dụng các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ tài nguyên, BVMT, an toàn cho người và tài sản (Điều 4). Bên cạnh đó, chủ thể phải có đề án BVMT và các biện pháp ngăn ngừa BVMT (Điều 5). Các chủ thể này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về thiệt hại gây ra cho con người, tài sản và môi trường. Đặc biệt phải khôi phục nguyên trạng môi trường trước khi các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp tác động tới môi trường gây ra thiệt hại.
Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 quy định các cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây ra thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi. Trong trường hợp chủ thể muốn từ bỏ quyền sở hữu mà việc từ bỏ đó có thể làm ô nhiễm môi trường thì việc từ bỏ đó cũng phải tuân theo các quy định của pháp luật (Điều 249); khi sử dụng, bảo quản, từ bỏ tài sản của mình, chủ sở hữu phải tuân theo các quy định của pháp luật về BVMT, nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại. Như vậy, đối với các vấn đề về ô nhiễm môi trường biển, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được xác định trong trường hợp sử dụng nguồn nguy hiểm, trong đó có thiệt hại phát sinh từ dầu. Ngoài ra, luật này còn quy định cho phép áp dụng chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để truy cứu trách nhiệm đối với hành vi xả, thải, làm tràn dầu gây ô nhiễm môi trường.
Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 đã có các quy định cụ thể, rõ ràng hơn rất nhiều về tội phạm môi trường. Cụ thể, các tội phạm môi trường được quy định tại Chương 19 với 12 tội danh, trong đó có: tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235); tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237). Theo quy định tại Điều 237, tùy vào mức độ của hành vi vi phạm, các hành vi của cá nhân, pháp nhân vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường có thể bị phạt tiền từ 50 triệu, thậm chí 10 tỷ đồng; hình phạt tù có thể từ 6 tháng đến cao nhất là 7 năm tù (đối với cá nhân và pháp nhân) năm đến 10 năm tùy thuộc vào mức độ gây thiệt hại và tính chất hành vi vi phạm, ngoài ra có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề liên quan đến lĩnh vực môi trường và BVMT. Điểm mới của các quy định về gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật Hình sự năm 2015 đó là văn bản này đã đưa ra con số định lượng để xác định mức độ của hành vi vi phạm và hình phạt tương ứng (Điều 235). Việc quy định như vậy sẽ đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng khi xác định mức độ gây ô nhiễm để từ đó xác định khung hình phạt phù hợp với chủ thể có hành vi gây ô nhiễm môi trường. Như vậy quan điểm lập pháp của Việt Nam đã thể hiện được sự tiến bộ, phù hợp với các quy định của luật quốc tế về BVMT, đảm bảo trừng trị nghiêm minh các hành vi gây ô nhiễm môi trường của thể nhân và pháp nhân tại Việt Nam.
Pháp lệnh Lực lượng cảnh sát biển Việt Nam năm 2008 quy định: một trong những nhiệm vụ quan trọng và chủ yếu của lực lượng vũ trang này là bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường của đất nước, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trường, bao gồm ô nhiễm biển từ dầu trên các vùng biển thuộc quyền tài phán của Việt Nam, như vậy bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT mà chúng ta là thành viên.
Ngoài các đạo luật nêu trên, vấn đề ngăn chặn và khắc phục ô nhiễm biển nói chung và ô nhiễm dầu từ tàu nói riêng còn được điều chỉnh ở các mức độ khác nhau của Luật Thủy sản 2003, Luật Biển Việt Nam 2012 và hàng loạt các nghị định, thông tư, chỉ thị hữu quan khác…
Từ góc độ lập pháp, có thể khẳng định rằng, một hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam về phòng chống và khắc phục ô nhiễm biển đã được xây dựng và phát triển, trong đó định chế về ngăn chặn và khắc phục ô nhiễm biển từ tàu được đặc biệt quan tâm, vì đây là loại hình ô nhiễm nguy hiểm nhất trong các loại hình ô nhiễm biển. Điều cần nhấn mạnh là hệ thống các quy định này được ghi nhận trong các bộ luật Việt Nam chuyên ngành, chứ không tập trung trong một văn bản pháp luật cụ thể, đồng thời việc thực hiện chúng được tiến hành dựa trên các nghị định, thông tư, chỉ dẫn kèm theo… nhằm đảm bảo hiệu quả cho quá trình thực thi và tuân thủ pháp luật. Trong quá trình áp dụng vào thực tế, kết quả là đầy khích lệ, nhưng đã xuất hiện các khiếm khuyết, bất cập nhất định. Vì vậy việc hoàn thiện và hoàn chỉnh hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về BVMT biển là cần thiết và phải tiến hành ngay.
3. Các Công ước mà Việt Nam đang xem xét tham gia
Các công ước quốc tế mà Việt Nam đang xem xét để tham gia bao gồm:
Công ước quốc tế về trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969;
Công ước quốc tế liên quan tới can thiệp vào các biểu vĩ độ cao trong trường hợp thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969;
Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác, 1971;
Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác, 1972;
Công ước quốc tế về bảo tồn các loài động vật hoang dã di cư, 1979;
Công ước quốc tế về sự sẵn sàng, ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm dầu năm 1990 (OPRC).
4. Một số gải pháp để ngăn chặn, khắc phục và xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường
Tăng cường công tác bảo vệ môi trường, phòng ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực đối với chất thải lỏng gây ra trên biển của ngành hàng hải.
4.1. Các giải pháp về cơ chế chính sách
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước về giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm về quy định bảo vệ môi trường trong hoạt động hàng hải,trong đó những chế tài xử phạt phải thực sự đủ mạnh để đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm.
Nghiên cứu xây dựng và ban hành quy định về kiểm soát và quản lý nước thải phát sinh từ tàu.
Xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực đảm nhiệm công tác bảo vệ môi trường biển phù hợp với chuyên ngành quản lý trong hoạt động hàng hải và triển khai sâu rộng, phù hợp với thực tế tại các đơn vị trực thuộc.
4.2. Xác đinh ưu tiên bảo vệ môi trường của ngành hàng hải
Đề xuất xây dựng cơ chế, chính sách về đầu tư, xây dựng quản lý khai thác, sử dụng hệ thống tiếp nhận, xử lý chất thải, nghiên cứu xây dựng hệ thống tiếp nhận, xử lý chất thải từ tàu các cảng biển Việt Nam.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động hàng hải.
Tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường , phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, nhất là giữa lực lượng thanh tra môi trường với lực lượng cảnh sát môi trường các cấp để có thể phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, triệt để những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân.
4.3. Các giải pháp kiểm soát, giảm thiểu, xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động hàng hải
Nghiên cứu xây dựng trạm tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu tại Việt Nam.
Xây dựng quy trình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải trong hoạt động hàng hải, bao gồm: Cảng biển; Nạo vét, duy tu luồng; Công nghiệp tàu thuỷ; Hoạt động của phương tiện thuỷ.
Chương trình tiết kiệm năng lượng: Giảm thiểu phát thải, tái chế, tái sử dụng chất thải; Nghiên cứu xây dựng định mức tiêu hao nhiên liệu, áp dụng các giải pháp sử dụng nhiên liệu tiết kiệm và hiệu quả; Sử dụng nhiên liệu sạch, nhiên liệu thay thế.
Chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy phép đầu tư.
4.4. Các giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về Bảo vệ môi trường nói chung và môi trường nói riêng
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường.
Phổ biến, quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị, các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; Chương trình hành động của Bộ GTVT về BVMT đến các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công nhân, viên chức ngành hàng hải qua các hội nghị, hội thảo bồi dưỡng kiến thức về BVMT.
Tập huấn về kỹ năng quản lý môi trường cho cán bộ quản lý trong ngành hàng hải và doanh nghiệp.
4.5. Các giải pháp về quản lí
Đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường: Tăng cường sự phối hợp hoạt động thanh tra, kiểm tra của lực lượng thanh tra chuyên ngành hàng hải và thanh tra môi trường để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp giảm thiểu, khắc phục ô nhiễm môi trường từ hoạt động hàng hải.
Phối hợp với các cơ quan chức năng ở Trung ương và địa phương để hướng dẫn, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các hoạt động hàng hải
4.6. Các giải pháp về kỹ thuật
Nghiên cứu, thiết kế và xây dựng khu vực chuyển tải chuyên dùng cho tàu chở dầu, chở hàng hóa nguy hiểm cho từng khu vực cảng biển nhằm đáp ứng các yêu cầu về an toàn hàng hải, phòng chống cháy nổ và phòng ngừa ô nhiễm môi trường.
Yêu cầu các bến cảng, kể cả cảng hiện hữu và cảng xây mới phải trang bị thiết bị tiếp nhận theo các quy định về phương tiện tiếp nhận tại các Phụ lục I, II, IV, V và VI Công ước MARPOL
4.7. Các giải pháp về cơ chế tài chính
Để đề án có thể triển khai thực hiện, không thể thiếu các cơ chế về tài chính, bao gồm các cơ chế về kinh phí đầu tư xây dựng hệ thống, cơ chế quy định mức và phương pháp thu phí và lệ phí, cơ chế chế tài xử phạt các vi phạm, …
Căn cứ vào các phân tích về chi phí đầu tư và vận hành hệ thống tiếp nhận và xử lý chất thải cho thấy giá trị chi phí hoàn toàn không nhỏ, là một trong những rào cản cho việc thực hiện đề án.
Bên cạnh đó, nước ta cũng chưa có các văn bản pháp lý chính thức thống nhất phương pháp thu phí và lệ phí tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu, cũng như các văn bản chế tài cho các trường hợp vi phạm các quy định về vấn đề xả thải.
Một số đề xuất về cơ chế tài chính gồm:
Các văn bản pháp lý về hỗ trợ, ưu đãi đầu tư hệ thống tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu, tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư từ xã hội;
Các văn bản pháp lý thống nhất về phương pháp thu phí và lệ phí khi tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu theo chiều hướng giảm nhẹ nguồn ngân sách nhà nước, thu hút được nguồn đầu tư từ xã hội;
Các văn bản pháp lý chế tài xử phạt hành chính các hành vi không trung thực của chủ tàu khi khai báo lượng chất thải, các hành vi thu gom chất thải ngoài phạm vi cho phép.