1. Tổ chức tài chính vi mô muốn mua lại phần vốn góp của thành viên thì phải kinh doanh liên tục có lãi trong vòng bao lâu?

Để tổ chức tài chính vi mô có thể mua lại phần vốn góp của thành viên, nó phải tuân thủ các điều kiện được quy định tại khoản 2 Điều 30 của Thông tư 03/2018/TT-NHNN. Theo đó, quy trình mua lại này được thực hiện như sau:
Quy định chung về mua lại phần vốn góp:
   - Yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên, cũng như điều kiện thanh toán và xử lý phần vốn góp, phải tuân theo quy định về mua lại phần vốn góp của Luật Doanh nghiệp.
Điều kiện cụ thể để mua lại phần vốn góp của thành viên bao gồm:
+ Kinh doanh liên tục có lãi trong 05 năm liền kề: Tổ chức tài chính vi mô cần chứng minh rằng nó đã kinh doanh liên tục có lãi trong 05 năm trước năm đề nghị mua lại phần vốn góp và không có lỗ lũy kế trong thời kỳ đó.
+ Tuân thủ quy định về quản trị rủi ro và trích lập dự phòng: Tổ chức phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định về quản trị rủi ro và trích lập dự phòng theo quy định tại thời điểm Ngân hàng Nhà nước chấp thuận việc mua lại phần vốn góp.
+ Không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng: Tổ chức không được phép bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong 05 năm trước năm đề nghị mua lại phần vốn góp và cho đến thời điểm Ngân hàng Nhà nước chấp thuận việc này.
+ Bảo đảm thanh toán nghĩa vụ tài sản và duy trì tỷ lệ an toàn: Sau khi thanh toán hết phần vốn góp được mua lại, tổ chức tài chính vi mô phải vẫn đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Đồng thời, tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng và giá trị thực của vốn điều lệ không thể thấp hơn mức vốn pháp định.
Như vậy, quy định này giúp đảm bảo tính ổn định và độ an toàn trong quá trình mua lại phần vốn góp của thành viên, đồng thời tăng cường sự minh bạch và tuân thủ quy định pháp luật trong lĩnh vực tài chính vi mô.
 

2. Quy định mua lại phần vốn góp trong tổ chức tài chính vi mô

Phần vốn góp của thành viên trong tổ chức tài chính vi mô có thể chủ động được mua lại theo các quy định chi tiết tại Điều 30 của Thông tư 03/2018/TT-NHNN. Theo hướng dẫn này:
- Yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên: Quá trình mua lại này, bao gồm yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên, điều kiện thanh toán, và xử lý phần vốn góp, phải được thực hiện theo quy định về mua lại phần vốn góp của Luật Doanh nghiệp, đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ theo quy định của pháp luật.
- Điều kiện để tổ chức tài chính vi mô mua lại phần vốn góp của thành viên: Để đạt được quyền mua lại phần vốn góp của thành viên, tổ chức tài chính vi mô phải thỏa mãn các điều kiện chi tiết sau đây:
+ Kinh doanh liên tục có lãi trong 05 năm liền kề: Tổ chức cần chứng minh rằng nó đã duy trì hoạt động kinh doanh liên tục có lãi trong 05 năm trước năm đề nghị mua lại phần vốn góp và không có lỗ lũy kế trong khoảng thời gian này.
+ Tuân thủ đầy đủ các quy định về quản trị rủi ro và trích lập dự phòng: Tổ chức buộc phải tuân thủ một cách đầy đủ tất cả các quy định về quản trị rủi ro và trích lập dự phòng, theo những hướng dẫn và điều chỉnh có hiệu lực tại thời điểm Ngân hàng Nhà nước chấp thuận quyết định mua lại phần vốn góp. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập và duy trì một hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả, đồng thời trích lập dự phòng một cách đủ để đối mặt với các thách thức có thể xảy ra trong quá trình mua lại vốn góp của thành viên.
Quy định này bao gồm việc xác định và đánh giá rủi ro một cách chi tiết, thiết lập các biện pháp kiểm soát, và triển khai các chiến lược trích lập dự phòng có hiệu quả. Tổ chức cần liên tục cập nhật và điều chỉnh chính sách của mình để đảm bảo rằng chúng đáp ứng được các thách thức mới và biến động trong môi trường kinh doanh và tài chính.
Quản trị rủi ro và trích lập dự phòng đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì uy thế tài chính của tổ chức và đảm bảo tính ổn định trong quá trình mua lại phần vốn góp. Việc thực hiện một hệ thống quản trị rủi ro và trích lập dự phòng hiệu quả không chỉ giúp bảo vệ lợi ích của tổ chức mà còn tăng cường niềm tin của các bên liên quan, bao gồm cả Ngân hàng Nhà nước, vào khả năng quản lý và điều hành của tổ chức tài chính vi mô.
+ Không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng: Tổ chức không được phép bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng trong 05 năm trước năm đề nghị mua lại phần vốn góp và cho đến thời điểm Ngân hàng Nhà nước chấp thuận việc này.
+ Bảo đảm thanh toán nghĩa vụ tài sản và duy trì tỷ lệ an toàn: Sau khi thanh toán hết phần vốn góp được mua lại, tổ chức tài chính vi mô phải vẫn đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Đồng thời, bảo đảm các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng và giữ nguyên giá trị thực của vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định.
Như vậy, việc đáp ứng đầy đủ những điều kiện nêu trên là yếu tố quan trọng để tổ chức tài chính vi mô có thể mua lại phần vốn góp của thành viên một cách hợp pháp và minh bạch.
 

3. Quy định chuyển nhượng phần vốn góp trong tổ chức tài chính vi mô như thế nào?

Điều 31 của Thông tư 03/2018/TT-NHNN chi tiết hóa quy định về việc chuyển nhượng phần vốn góp trong tổ chức tài chính vi mô như sau:
- Tuân thủ quy định của Điều 29 và Luật Doanh nghiệp: Quy định chuyển nhượng phần vốn góp phải đảm bảo tuân thủ các quy định của Điều 29 của Thông tư 03/2018/TT-NHNN, Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Thời hạn chuyển nhượng cho thành viên sáng lập:Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép, thành viên sáng lập chỉ có thể chuyển nhượng phần vốn góp cho thành viên sáng lập khác với điều kiện đảm bảo tỷ lệ sở hữu vốn góp quy định tại Điều 29 của Thông tư 03/2018/TT-NHNN.
- Chuyển nhượng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:
+ Không làm thay đổi hình thức pháp lý của tổ chức tài chính vi mô.
+ Ưu tiên chuyển nhượng phần vốn cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ với điều kiện cụ thể.
+ Chuyển nhượng phần vốn cho tổ chức, cá nhân khác chỉ được thực hiện khi các thành viên góp vốn còn lại không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán và phải tuân thủ điều kiện không ưu đãi hơn đối với các thành viên còn lại trong tổ chức tài chính vi mô.
+ Người nhận chuyển nhượng phần vốn phải đáp ứng điều kiện tại Điều 8 Thông tư 03/2018/TT-NHNN, bao gồm các điều kiện đặc biệt đối với thành viên sáng lập là tổ chức chính trị, tổ chức đã hoặc đang tham gia quản lý hoặc điều hành chương trình, dự án tài chính vi mô an toàn, bền vững trong ít nhất 03 năm liên tiếp trước thời điểm nộp đơn đề nghị cấp Giấy phép, và các điều kiện cụ thể với thành viên sáng lập là cá nhân hoặc tổ chức Việt Nam.
- Chuyển nhượng phải được chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước: Việc chuyển nhượng phần vốn góp phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện, và quá trình chấp thuận này tuân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tổng cộng, những quy định này nhằm đảm bảo quy trình chuyển nhượng phần vốn góp trong tổ chức tài chính vi mô được thực hiện đúng quy định và tuân theo các điều kiện cụ thể phù hợp với từng trường hợp thành viên góp vốn khác nhau.
Liên hệ hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật nhanh chóng