- 1.Giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng Tòa án là gì?
- 2. Quy định về giải quyết tranh chấp bằng Tòa án về giao dịch bảo đảm
- 3. Nên lựa chọn tòa án hay trọng tài để giải quyết tranh chấp
- 4. Thời hạn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án
- 5. Các bước giải quyết của Tòa án trong vụ án kinh doanh thương mại
1.Giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng Tòa án là gì?
Mỗi khi có tranh chấp, các cá nhân tổ chức thường có ý nghĩ ngay từ đầu là kiện ra Tòa án để giải quyết nhưng chưa hề hiểu rõ phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án.
Tòa án là một cơ quan trong bộ máy nhà nước thuộc nhánh tư pháp, nhân danh quyền lực của nhà nước để đưa ra phán quyết theo trình tự thủ tục nghiêm ngặt. Bản án của nhà nước sẽ được cưỡng chế thi hành bằng sức mạnh nhà nước.
Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng Tòa án bao gồm:
Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa sơ thẩm gồm có khởi kiện, thụ lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử, mở phiên tòa
Thủ tục xét xử phúc thẩm nếu có kháng cáo
Thủ tục xét xử lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật: bao gồm thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm
2. Quy định về giải quyết tranh chấp bằng Tòa án về giao dịch bảo đảm
Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc xử lý tài sản bảo đảm, thì buộc phải khởi kiện ra Toà án và theo đuổi vụ án giải quyết tranh chấp như một vụ án thông thường, mất rất nhiều thời gian, chi phí. Yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản bảo đảm nhiều nhất là các tổ chức tín dụng. Thực tiễn xử lý nợ cho thấy các tổ chức tín dụng phải sử dụng nhiều giải pháp để xử lý nợ, nhưng nếu không đem lại hiệu quả thì khởi kiện ra Toà án để thu hồi nợ sẽ là giải pháp cuối cùng. Quá trình này thường mất rất nhiều thời gian (Toà án giải quyết xong một vụ án thường mất một vài năm) và chi phí của tổ chức tín dụng. Đặc biệt, muốn xử lý tài sản thế chấp thì không khỏi kiện được thẳng bên có tài sản thế chấp, mà phải kiện bên vay vốn (được cấp tín dụng). Nguyên nhân khó khăn, vướng mắc là do cơ chế, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm còn rườm rà, phức tạp và phụ thuộc quá nhiều vào ý chí của bên bảo đảm (bên có nghĩa vụ thanh toán nợ) như người bị kiện, người có quyển và nghĩa vụ liên quan bỏ trốn khỏi nơi cư trú, cố ý trì hoãn vắng mặt nhiều lần ồ phiên toà. Có nhiều trường hợp người vay vốn, người thế chấp, bảo lãnh vay vốn bị khởi tố, điều tra xử lý trong một vụ án hình sự khác không liên quan đến việc người vay vốn, bên thế chấp, bên bảo lãnh vay vốn tại tổ chức tín dụng, nhưng Toà án vẫn ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết của cơ quan điều tra. Hoặc tổ chức tín dụng cũng phải chờ đợi khi Toà án quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án để đợi cơ quan nhà nưốc có thẩm quyền trả lời về nội dung Toà án có văn bản hỏi.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định nguyên đơn, bị đơn và các chủ thể khác tham gia tố tụng dân sự là cá nhân và pháp nhân mà lại quy định là “cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Tuy nhiên, các cơ quan, tổ chức đó đều phải có tư cách pháp nhân (nếu không thì chỉ là cá nhân). Trên thực tế, Toà án chưa từng chấp nhận chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự là hộ gia đình hay doanh nghiệp tư nhân, mà là các thành viên của hộ gia đình hay chủ doanh nghiệp tư nhân.
Khi nộp Đơn khỏi kiện, dù đã ghi đầy đủ các nội dung của Đơn khởi kiện và nộp đầy đủ hồ sơ liên quan trực tiếp đến khoản nợ như hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, khê ước nhận nợ, nhưng trên thực tế thì vẫn thường xuyên bị Toà án yêu cầu kèm theo nhiều giấy tò pháp lý của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như bản sao hộ khẩu, Chứng minh nhân dân của bị đơn là cá nhân; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Điều lệ của bị đơn là doanh nghiệp. Những tài liệu này không hề được đề cập trong các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cũng như trong các văn bản hưóng dẫn, kể cả mẫu Đơn khỏi kiện.
Trong nhiều năm qua, đã có quá nhiều Đơn kiện không được Toà án thụ lý hoặc bị đình chỉ vì lý do không xác đỉnh được địa chỉ của bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (kể cả đã làm thủ tục thông báo vắng mặt). Khi đó, vụ án sẽ bị kéo dài vô thời hạn vì đương sự đã dễ dàng vô hiệu hoá pháp luật, qua mặt cơ quan tư pháp, coi thường Toà án, chống đối công lý, chỉ bằng cách thức rất đơn giản là thay đổi địa chỉ hay phớt lồ lệnh của Toà án.
Một trong những vướng mắc thường gặp phải trong quá trình khởi kiện là Toà án trả lại Đơn khởi kiện hoặc Quyết định tạm đình chỉ vụ án vì lý do “không ghi đúng địa chỉ của bị đơn” hay “chưa tìm được địa chỉ của bị đơn” (lý do không đúng luật), do bị đơn thay đổi địa chỉ hoặc cố tình không phản hồi các yêu cầu phát sinh trong quá trình tố tụng. Mặc dù điều này đã được quy định rõ: “Trường hợp trong đơn khỗi kiện, người khỏi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mối cho cơ quan, ngưòi có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khỏi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốh tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định ngưòi bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”. Cũng trong tình huống này, thì Trọng tài thương mại lại hoàn toàn chủ động giải quyết theo trình tự vắng mặt bị đơn.
Khác với phán quyết của Trọng tài thương mại có hiệu lực thi hành ngay, nếu Bản án, quyết định của Toà án sơ thẩm bị các đương sự kháng cáo, Viện kiểm sát hoặc Chánh án kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm
3. Nên lựa chọn tòa án hay trọng tài để giải quyết tranh chấp
Ưu điểm của giải quyết tranh chấp bằng Tòa án:
Thông thường chi phí để giải quyết một tranh chấp hợp đồng của Tòa án sẽ thấp hơn so với trọng tài
Phán quyết của tòa án có giá trị thi hành cao vì được cưỡng chế thi hành bằng sức mạnh nhà nước.
Trình tự tố tụng chặt chẽ theo quy định của pháp luật
Nhược điểm của giải quyết tranh chấp bằng Tòa án:
Thủ tục thiếu linh hoạt và kéo dài
Tính xét xử công khai không phù hợp với hoạt động kinh doanh thương mại vì dễ ảnh hưởng đến uy tín và tiết lộ bí mật kinh doanh
Phán quyết có thể bị kháng cáo dẫn đến vụ tranh chấp bị kéo dài
Trình độ chuyên môn của thẩm phán thường không cao bằng trọng tài viên
Ưu điểm của giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Thủ tục linh hoạt, đơn giản, các bên có thể chủ động về thời gian và địa điểm giải quyết tranh chấp tùy vào từng trung tâm trọng tài
Đảm bảo bí mật hơn so với Tòa án
Các bên có thể lựa chọn trọng tài viên giải quyết nên có thể lựa chọn được các chuyên gia có chuyên môn và kinh nghiệm thực tế
Phán quyết của trọng tài là phán quyết chung thẩm và không bị kháng cáo.
Nhược điểm của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài:
Chi phí trọng tài thường cao hơn tòa án
Hai bên nhất thiết phải có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và có thể thực hiện được
Tính cưỡng chế thi hành của trọng tài thường không cao bằng Tòa án
4. Thời hạn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án
Căn cứ theo điều 203, Điều 205 BLTTDS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định thì tùy thuộc vào tính chất của mỗi vụ việc, thời hạn chuẩn bị xét xử thường kéo dài từ 02 đến 04 tháng.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
5. Các bước giải quyết của Tòa án trong vụ án kinh doanh thương mại
Căn cứ theo điều 191 BLTTDS 2015,sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
- Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
- Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Thẩm phán chỉ thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thụ lý vụ án.
Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên.
(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)