1. Nhân phẩm và nhân cách cá nhân ở nơi làm việc

Ở nơi làm việc, nhìn chung trong các cơ quan nhà nước, cán bộ công nhân viên được tôn trọng về nhân phẩm và nhân cách, tuy nhiên vẫn còn thấy khá thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin về những vụ việc cán bộ bị trù dập, nhất là những cán bộ có tinh thần đấu tranh chống lại những sai trái của cấp trên hoặc của cơ quan, chính quyền là những người có quyền lực trong tay, ví dụ điển hình là vụ việc “thầy Khoa nói không với tiêu cực” bị trù dập và tẩy chay. Tại các công ty xí nghiệp tư nhân, việc công nhân, nhân viên bị người nắm quyền lực đánh đập, xúc phạm, xâm phạm đến nhân phẩm và nhân cách không phải là phổ biến sống tồn tại khá dai dẳng. Điều đáng nói đây là, thái độ của những người ngang nhiên vi phạm và sự bàng quan của những người xung quanh chính là sự dung dưỡng cho hiện tượng kéo dài, điều này cho thấy văn hóa nhân quyền chưa phát huy được tác dụng tích cực ở những nơi này.

2. Quyền con người ở nơi làm việc

Nhiều người lao động đều sống tại nơi làm việc một phần ba số thời gian trong một ngày, vì thế việc quyền con người có được tôn trọng tại nơi làm việc hay không rõ ràng là cần phải bàn đến khi nói về nhân quyền. Ngoại trừ những vụ việc liên quan đến vi phạm nhân quyền một cách rõ ràng như quấy rối tình dục đối với nhân viên nữ, bất bình đẳng trong cơ hội (đào tạo, bồi dưỡng, thăng tiến), bất công (trù dập) đối với cấp dưới... mà chúng ta có thể thấy trên thực tế hoặc qua một số vụ việc được đưa tin trên các phương tiện truyền thông, còn có những vi phạm nhân quyền mà chúng ta ít để ý có nguồn gốc từ nếp sống, nếp nghĩ đã ăn sâu trong chính mỗi bản thân chúng ta. Ví dụ, có câu ngạn ngữ mà chúng ta ai cũng quen biết và có thể đã từng làm theo, đó là “dĩ hoà vi quý”. Người Việt Nam thường rất chú trọng tới mối quan hệ với những người xung quanh, vì thế đôi khi có những điều bất công (có khi chỉ là lời ăn tiếng nói làm tổn thương đến bản thân hoặc người khác) nhưng vì “một điều nhịn là chín điều lành” hoặc quá chú trọng tối hoà khí trong cơ quan, hoặc không muốn làm cho quan hệ cấp trên cấp dưới xấu đi nên thường bỏ qua. Một khi chúng ta còn chưa vượt lên được những quan niệm mang tính tập quán này thì những vi phạm quyền con người (nhân phẩm, nhân cách) tại nơi làm việc còn khó bề chấm dứt.

Bên cạnh đó còn rất nhiều vi phạm quyền con người khác nữa liên quan đến sự phân biệt đối xử bắt nguồn từ bằng cấp, giới tính, tuổi tác, tầng lớp xuất thân và ngay cả diện mạo nữa. Tại Mỹ, do quan tâm tới vấn đề vi phạm nhân quyền liên quan đến tuổi tác có nhiều đại học đã gỡ bỏ những quy định về tuổi tác. Nơi làm việc là nơi đánh giá con người bằng tiêu chuẩn năng lực và lòng ham mê, hăng say, tất cả những tiêu chuẩn khác đều có liên quan đến sự phân biệt đối xử, quan niệm này đã ăn sâu bắt rễ từ lâu các nước tiên tiến. Ví dụ, các quy định về tuổi tác trong tiêu chuẩn bố trí chức vụ quản lý như nữ phải dưới 50 tuổi, nam dưới 55 tuổi cũng có thể coi là những quan niệm phân biệt đối xử liên quan đến tuổi tác.

3. Quyền con người thường bị đặt xuống hàng thứ yếu ở các xí nghiệp, công ty

Quyền con người ở đây thường bị đặt xuống hàng thứ yếu ở các xí nghiệp, công ty vì mục tiêu của các xí nghiệp, công ty theo đuổi là lợi nhuận. Ngay trong các khoa về quản trị kinh doanh ở đại học chưa có nơi nào dạy về quyền con người trong công ty, hay ở hiệu sách cũng vậy, có không biết bao nhiêu là sách dạy về cách kinh doanh được bày bán nhưng thật khó lòng kiếm được cuốn sách nói về quyền con người tại công ty xí nghiệp. Tuy nhiên, không phải là ở các công ty, xí nghiệp không có việc bảo vệ quyền. Các tổ chức công đoàn là đoàn thể luôn quan tâm bảo vệ quyền lợi cho người lao động sống cũng cần phải nói rằng, đó là khi vụ việc đã trở nên rõ ràng thì các tổ chức mới tích cực can thiệp bảo vệ lợi ích của người lao động, ngược lại, hầu như rất ít các công ty có chính sách và biện pháp quan tâm hàng đầu tối vấn đề quyền con người. Còn rất nhiều nhà quản lý cho rằng lo kinh doanh cho có lãi để duy trì và phát triển được xí nghiệp đã là khó, còn thời gian đâu để lo đến vấn đề quyền hay môi trường nữa. Đây là một quan niệm sai lầm. Việc không để xảy ra phân biệt đối xử trong tuyển chọn và thăng tiến nhân lực chính là sự phán đoán kinh doanh hợp lý nhất về mặt lý luận khi tiến hành quản lý nhân sự chủ yếu theo năng lực. Rõ ràng là, nếu như chính sách nhân sự bị bẻ cong vì những lý do liên quan đến vấn đề giới, xuất thân hay lý lịch (vi phạm quyền) thì đó chính là những chính sách bất hợp lý nhất về mặt kinh doanh.

4. Quyền con người ở trường học

Ở nhà trường, những vụ việc học sinh bị đối xử phân biệt hoặc bị xâm phạm đến cơ thể bằng những hình phạt nhục thể đôi khi vẫn được đưa ra ánh sáng. Nhà trường là nơi đứa trẻ lớn lên học được rất nhiều điều tiếp theo gia đình. Trong giáo dục về quyền, vai trò của nhà trường vô cùng to lớn. Tuy nhiên, trên thực tế chúng ta có thể quan sát thấy có rất nhiều trường hợp nhà trường có ảnh hưởng tiêu cực tối giáo dục quyền con người. Việc dạy những đứa trẻ phải thật nam tính hoặc thật nữ tính phần nhiều diễn ra nhà trường. Việc phân chia, xếp hạng học sinh thành loại giỏi, loại kém rồi ngợi khen và có nhiều ưu tiên đối với học sinh giỏi, coi thường và thậm chí có nhiều biện pháp xử phạt đối với học sinh kém thực chất có ảnh hưởng xấu tới giáo dục quyền con người.

Có những hiện tượng tuy không phổ biến nhưng vẫn đang xảy ra đây đó trong nhà trường như việc dùng hình phạt nhục thể đối với học sinh hoặc thậm chí có hiện tượng quấy rối đối với học sinh nữ. Trong lớp, học sinh được học về tư tưởng dân chủ, sống trên thực tế, học sinh lại bị áp đặt về quyền uy của giáo viên, học sinh luôn được dạy rằng phải phục tùng giáo viên, nghe theo lời giáo viên và hầu như không được đối đáp lại với giáo viên. Có rất nhiều nội quy, quy tắc của nhà trường được đặt ra từ một phía hoàn toàn không có sự tham khảo từ học sinh và học sinh thì được coi là chỉ việc nhất nhất thực hiện là được.

Từ những thực tế này có thể thấy rằng, nhà trường đôi khi là nơi giảng dạy những điều đi ngược lại với tư tưởng nhân quyền, ví dụ, ngay từ những lớp dưới đã có sự phân biệt nam nữ thông qua việc dạy các em về nữ tính hoặc nam tính. Tư tưởng nhân quyền đòi hỏi nhà trường tôn trọng và phát huy cá tính bẩm sinh của từng học sinh, sao cho các em được lớn lên và trưởng thành đầy đủ và tự nhiên. Nếu như cách sống của mỗi người được người đó tự giác lựa chọn chứ không vì sự áp đặt, gò bó từ bên ngoài thì điều đó là lý tưởng. Trên thực tế vẫn có những trường hợp nhà trường và giáo viên áp đặt cho học sinh những lối sống hoàn toàn không theo ý chí cá nhân học sinh.

5. Vai trò của nhà trường trong việc giáo dục nhân quyền

Việc dạy học sinh có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự hào dân tộc sâu sắc là những điều rất quan trọng. Con người ai cũng có xu hướng đồng hóa bản thân với những người trong cùng một tập thể (Tổ quốc) đã sinh ra, với tự nhiên, văn hóa, lịch sử, tập quán, ngôn ngữ của đất nước. Đó là những tình cảm tự nhiên cần phải được tôn trọng. Tuy nhiên bên cạnh đó, rất cần phải dạy cho học sinh hiểu và chấp nhận những người có truyền thông văn hoá khác với mình (nhóm ngoài) cũng có những tình cảm (tình yêu và lòng tự hào) tương tự đối với quê hương và lịch sử, văn hoá ngôn ngữ của họ. Việc giáo dục lòng yêu nước và lòng tự hào dân tộc cần kết hợp với tinh thần quốc tế vì nếu không, có thể dẫn đến tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, ưu việt cục bộ, nguồn gốc của ý thức phân biệt đối xử đối với người ngoài nhóm.

Nhà trường cần phải thực hiện một nền giáo dục để mọi học sinh không kể nam hay nữ, học được (giỏi) hay học chưa được, dân tộc này hay dân tộc khác đều có thể tự hào về bản thân (tự tin), ham hiểu biết kiến thức sâu sắc, suy nghĩ phóng khoáng, biểu đạt tự do không khuôn sáo và hành động có kỷ luật nhưng vẫn có thể theo ý chí bản thân, không bị lệ thuộc. Để làm được điều này không nên có sự phân biệt về giới, quốc tịch, năng lực và sự giàu nghèo, tuy dạy học sinh biết tôn kính giáo viên và người trên, nhưng không áp đặt về quyền uy và quy tắc của nhà trường, ngược lại phải giúp cho học sinh tự tin về bản thân để có thể sống và trưởng thành đầy đủ trong bầu không khí tự do, được tôn trọng về nhân phẩm và nhân cách. Nhà trường không thể là nơi có bầu không khí đi ngược lại với tư tưởng nhân quyền. Nhà trường phải là nơi học sinh học cách tôn trọng bản thân, thông qua đó biết tôn trọng người khác.

6. Vi phạm nhân quyền trong các trường đại học

Đại học là nơi đào tạo nhân lực ở những vị trí quản lý xã hội. Gần đây ở đại học xảy ra khá nhiều chuyện, trong đó có không ít trường hợp vi phạm quyền con người nghiêm trọng trong khuôn viên nhà trường. Tuy không phải là phổ biến sống phương tiện truyền thông đã đưa tin về những vụ việc quấy rối tình dục xảy ra ở đại học. Chưa có con số thống kê chính thức sống những gì đã được công bố có thể cho thấy một sự vi phạm rất nghiêm trọng về quyền con người đối với nữ sinh.

Báo Thanh niên số 142-2008 cũng đưa tin Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh vô trách nhiệm trong việc bố trí nơi thực tập cho sinh viên khóa 34K (không theo sát quy trình thực tập, không làm đúng quy chế, quy định về thực tập) dẫn tối việc vi phạm quyền lợi của sinh viên, được gọi là hành vi “buôn bán sức lao động của sinh viên” bởi thay vì thực tập, sinh viên phải làm những công việc không liên quan gì tới chuyên ngành học, những công việc nặng và tăng ca liên tục như một công nhân thực thụ, nhưng lại không hề được hưởng bất cứ một chế độ gì về lương hoặc bảo hiểm.

Sứ mệnh của giáo dục đại học là hoạt động nghiên cứu, hoạt động giảng dạy có hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Vì vậy việc nghiên cứu, giảng dạy và triển khai trên thực tiễn một cách xác thực về quyền con người ở đại học là một yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu được đối với việc bảo vệ và duy trì quyền con người trong xã hội. Nguồn nhân lực được đào tạo ở đại học nếu hiểu rõ và thực thi trên thực tiễn về quyền thì trong tương lai, quyền con người chắc chắn sẽ bắt rễ sâu trong cuộc sống xã hội.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)