1. Quyền lợi của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Thưa luật sư, tôi công tác từ năm 1994 đến nay và cũng là thời gian đóng bảo hiểm của tôi. Tháng 3/2015, tôi làm đơn xin nghỉ việc trước 45 ngày vậy tôi được hưởng những quyền lợi gì?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: TT

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi ngay: 1900.0159

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Về trường hợp của bạn, bạn đã tuân thủ thời hạn báo trước theo quy định tại điều 37 Bộ luật Lao động 2012:

" Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Nếu bạn chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật: về các trường hợp được phép chấm dứt, về thời hạn báo trước...bạn sẽ được hưởng những quyền lợi sau:

Thứ nhất, được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định của Bộ luật Lao động 2012:

"Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc."

Thứ hai, bạn sẽ được hoàn trả các loại giấy tờ theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Bộ luật Lao động 2012: "Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động."

Thứ ba, được thanh toán các quyền lợi liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Lao động 2012:

"Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày."

Các khoản tiền được đề cập có thể bao gồm: các khoản nợ lương , thanh toán tiền những ngày nghỉ theo quy định tại Bộ luật Lao động 2012:

"Điều 114. Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ

1. Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ."

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với câu hỏi của bạn. Chúc bạn sức khỏe và thành công! Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Quy định về chế độ nghỉ việc riêng không hưởng lương trong thời gian thử việc ?

2. Khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật ?

Kính chào luật sư công ty Minh Khuê, tôi có vấn đề mong được tư vấn như sau: Trong hợp đồng lao động của tôi có nói rõ cách tính lương, hợp đồng của tôi 3 năm, lương được tính 10 triệu/tháng, trong đó cụ thể Công việc A 1 năm làm 200h x 300k/h=60 triệu, Công việc B 1 năm làm 300h x 200k/h=60 triệu. Tổng một năm làm 2 công việc A và B là 120 triệu nên lương mỗi tháng là 120/12 là 10 triệu. Tôi nhận lương hàng tháng.
Xin hỏi nếu tôi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật thì ngoài việc bồi thường nửa tháng tiền lương, tôi có phải bồi thường hoàn trả lại lương khi làm ít việc hơn qui định, chẳng hạn sau 6 tháng tôi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật tôi chưa làm một chút gì công việc B chỉ làm được một nửa khối lượng việc A. Vậy tôi có phải bồi hoàn lại 6 tháng tiền lương của công việc B tức là bồi hoàn thêm 30 triệu hay không?
Trân trọng cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 43 Bộ luật lao động năm 2012 về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này"

Như vậy, với trường hợp của bạn thì khi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật thì bạn sẽ không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, tức lương của bạn là 10 triệu đồng một tháng thì bạn phải bồi thường nửa tháng tiền lương là 5 triệu đồng. Ngoài ra nếu bạn vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước. Và phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Còn việc sau 6 tháng bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật nhưng bạn chưa làm một chút gì công việc B chỉ làm được một nửa khối lượng việc A thì bạn cũng không phải bồi hoàn lại 6 tháng tiền lương của công việc B mà bạn chỉ phải bồi thường theo quy định tại Điều 43 như trên, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.0159. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng!

>> Xem thêm:  Thời gian thử việc không được nhận phụ cấp có đúng luật ?

3. Công ty bồi thường như thế nào khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

​Tôi làm việc trong công ty tư nhân, hợp đồng của tôi là vô thời hạn, công ty đuổi việc tôi mà không báo trước 45 ngày như luật lao động. Xin hỏi luật sư tôi phải yêu cầu công ty bồi thường như thế nào?
Cảm ơn!

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ với bạn. Điều 38 Bộ luật lao động 2012 có quy định như sau:

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Như vậy nếu không tuân thủ quy định trên thì công ty đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật đối với bạn. Như vậy công ty phải có nghĩa vụ như sau:

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Như vậy, bạn có thể khiếu nại lên công ty để được giải quyết quyền lợi. Nếu không được giải quyết thì bạn có thể khởi kiện ra tòa để yêu cầu Tòa án bản vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Nghỉ việc trong thời gian thử việc có cần phải báo trước ? Cách tính tiền lương thử việc

4. Không thông báo trước mà chấm dứt hợp đồng lao động có vi phạm không ?

Xin chào luật sư Minh Khuê Cháu có một câu hỏi về luật lao động mong được văn phòng giúp đỡ ạ Bố cháu 53 tuổi, đang sinh sống tại thị xã Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyên Bố cháu được Ban quản lý đền thờ liệt sĩ huyện Phổ Yên (cũ) kí hợp đồng lao động năm một với công việc làm bảo vệ Đền thờ.
Ban quản lý thuê hai bảo vệ thay nhau chăm sóc khu tưởng niệm rộng khoảng 2ha gồm các cồng việc: trồng và chăm sóc cây cảnh, bảo vệ khu tâm linh khỏi trộm cắp, mở cửa và vệ sinh khu tưởng niệm để nhân dân thăm viếng... Hợp đồng mới nhất của bố cháu được kí từ ngày 1 tháng 12 năm 2014 đến 1 tháng 12 năm 2015. Nhưng vào ngày 8/10/2015 bố cháu được Ban Quản lý gọi lên và nói rằng sẽ không thuê bố cháu nữa và bố cháu sẽ nghỉ công việc này kể từ thời điểm được gọi lên. Lý do của việc chấm dứt hợp đông này là do Huyện mới chuyển lên thị xã và Thị xã sẽ ưu tiên công việc này cho một đối tượng khác là thương binh và mong bố cháu thông cảm.
Tuy nhiên đến tận bây giờ họ thậm chí còn chưa thanh toán 3,5 tháng lương từ trước đó cho bố cháu mà luôn xoa xuýt rằng thông cảm và đợi cái này cái kia. Theo như cháu tìm hiểu trường hợp của bố cháu thì bên thuê lao động đã vi phạm Điều 38 Luật lao động nước CHXHCN Việt Nam khi đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không báo trước 30 ngày. Hơn nữa trong bản hợp đồng lao động được kí giữa bố cháu và Ban Quản lý thì Ban Quản lý còn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lương đầy đủ và đúng thời hạn nhưng đã vi phạm. Bố cháu làm việc ở đó rất có trách nhiệm, được mọi người tin tưởng và yêu quý. Thậm chí tuổi cao nhưng bố cháu đã nhiều lần bắt được kẻ gian lẩn trốn trong khu vực Đền thờ nhằm trộm cắp tài sản nhưng chưa một lần được động viên, khen ngợi. Cháu rất bức xúc và muốn nhờ các luật sư tư vấn cho cháu về mức bồi thường khi người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trước, không thanh toán lương.
+ Nếu muốn đòi quyền lợi thì bố cháu nên làm những gì và mẫu đơn phải viết thế nào? gửi lên cơ quan nào giả quyết vấn đề này ạ?

Quyền lợi khi người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trước, không thanh toán lương

Luật sư tư vấn pháp luật lao động: 1900.0159

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo quy định của Bộ luật lao động 2012 thì người sử dụng lao động có quyền chấm dứt hợp đồng với người lao động trong những trường hợp sau đây:

“Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Như vậy đối chiếu quy định của pháp luật với trường hợp của bạn thì bên người sử dụng lao động đã có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Trong trường hợp này, người sử dụng lao động có nghĩa vụ với bố bạn như sau theo quy định của Bộ luật lao động 2012:

“Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

Đồng thời, trong trường hợp bố bạn không muốn quay trở lại làm việc và muốn chấm dứt hợp đồng lao động thì ngoài việc bồi thường như trên, người sử dụng lao động còn có trách nhiệm như sau với bố bạn theo quy định tại điều 47 Bộ luật lao động 2012:

“Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Do đó, bố bạn có thể tiến hành yêu cầu người sử dụng lao động phải đáp ứng các quyền lợi như chúng tôi đã nêu trên. Trường hợp bố bạn không được đáp ứng các quyền lợi này, bố bạn có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi Ban quản lý đền thờ có trụ sở sở được thụ lý giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email hoặc tổng đài luật sư tư vấn trực tuyến 1900.0159Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định chấm dứt hợp đồng lao động mới năm 2020