1. Giới thiệu tác giả

Sách "Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự" do TS. Nguyễn Văn Tuân biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

 

Sách Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự

Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự

Tác giả: TS. Nguyễn Văn Tuân

Nhà xuất bản Tư pháp

3. Tổng quan nội dung sách

Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan là một trong những nguyên tắc trong tố tụng hình sự. Nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận và thực tiễn, đảm bảo cho việc xác định trách nhiệm của nhà nước trong mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và công dân.

Trong công cuộc đổi mới nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, một nhà nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, Việt Nam rất coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật bảo vệ quyền con người. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng Hoà xã hôi chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật:. Điều 31 Hiến pháp năm 2013 còn ghi nhận quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật.

Để bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền con người, các quyền cơ bản của công dân đã được pháp luật ghi nhận, Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để chống lại mọi hành vi vi phạm pháp luật, nhất là đối với các loại tội phạm, Nhà nước thông qua hoạt động tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, nhưng cũng chính trong hoạt động tố tụng hình sự này mà quyền của cá nhân cũng dễ bị xâm phạm. Thông qua hoạt đọng tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết vụ án hình sự mà ở đó số phận pháp lý của một con người sẽ được định đoạt hoặc là tước bỏ ở họ một số quyền hoặc là bảo vệ quyền của họ.

Hoạt động xét xử là hoạt động có tính đặc thù và chỉ do toà án thực hiện. Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời; xét xử đùng người, đúng tội, đúng pháp luật; không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Đồng thời, với việc giải quyết vụ án hình siwj, pháp luật Việt Nam cho phép toà án giải quyết cả vấn đề dân sự liên quan đến tội phạm.

Để giúp bạn đọc tìm hiểu vấn đề bồi thương thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự, cũng như bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra, Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn:”Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự” của TS. Nguyễn Văn Tuân.

Cuốn sách “Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự” của TS. Nguyễn Văn Tuân sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ về vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự. Cuốn sách gồm hai phần:

Phần I – Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại của người bị oan trong tố tụng hình sự:

Trong phần này tác giả trình bày những vấn đề sau:

- Những vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự.

- Nghiên cứu pháp luật của Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới về bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự.

- Phân tích thực trạng oan, sai; nguyên nhân oan, sai và thực tiễn bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự.

- Từ việc nghiên cứu những vấn đề trên, tác giả đề xuất giải pháp nhằm hạn chế oan, sai và bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại của người bị oan trong tố tụng hình sự.

Phần II – Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự:

- Khái quát một số nội dung cơ bản về vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.

- Phân tích thực tiễn xét xử các vụ án hình sự có vấn đề dân sự, từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động này.

Cuốn sách là kết quả nghiên cứu, tìm hiểu và tích luỹ của tác giải về vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền của người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự, để từ đó có những kiến nghị về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam. 

4. Đánh giá bạn đọc

Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 31 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Theo đó:

1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự.

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra.

2. Người khác bị thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra có quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại.

Việc đặt ra và thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự nhằm khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan trong tố tụng hình sự; nâng cao trách nhiệm của người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự, góp phần làm cho việc giải quyết vụ án hình sự ngàng càng đúng đắn và hợp pháp hơn.

Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã quy định cụ thể hơn người bị oan là những ai, đó có thể là: người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khơi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và người khác bị thiệt hại do cơ quan, người tiến hành tố tụng gây ra. Cụ thể theo quy định tại Điều 18 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 thì các đối tượng thuộc một trong các trường hợp sau đây sẽ được Nhà nước bồi thường thiệt hại:

1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

2. Người bị bắt, người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

3. Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

4. Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

6. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

7. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;

8. Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Tòa án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

9. Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được pháp nhân đã thực hiện tội phạm và pháp nhân đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

10. Cá nhân, tổ chức có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý, có tài khoản bị phong tỏa hoặc cá nhân, tổ chức khác có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều này bị thiệt hại.

Bên cạnh đó Điều 20 Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước còn quy định riêng trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự như sau:

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

1. Thi hành án tử hình đối với người thuộc trường hợp không bị thi hành án tử hình quy định tại Bộ luật Hình sự;

2. Giam người bị kết án phạt tù quá thời hạn phải thi hành án theo bản án, quyết định của Tòa án;

3. Không thực hiện một trong các quyết định sau đây:

a) Hoãn thi hành án của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù;

b) Tạm đình chỉ thi hành án của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù;

c) Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù;

d) Tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù;

đ) Đặc xá của Chủ tịch nước đối với người bị kết án phạt tù được đặc xá;

e) Đại xá của Quốc hội đối với người bị kết án được đại xá

Cuốn sách đã được tác giả biên soạn khá toàn diện các vấn đề pháp lý về bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự từ góc độ lý luận đến thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về nội dung này. Đây là một tài liệu tham khảo toàn diện cho bạn đọc khi tìm hiểu, nghiên cứu về quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự. Cuốn sách không chỉ là tài liệu tham khảo bổ ích cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy mà cho cả những người làm công tác thực tiễn.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!