1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Hướng dẫn văn bản pháp luật về Công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch" do Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp biên soạn.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Hướng dẫn văn bản pháp luật về Công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch

Hướng dẫn văn bản pháp luật về Công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch

Tác giả: Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp

Nhà xuất bản Hồng Đức

 

3. Tổng quan nội dung sách

Hoạt động bổ trợ tư pháp có vai trò quan trọng trong việc giúp cho các hoạt động tư pháp vận hành thông suốt và thuận lợi. Vì vậy, để các hoạt động này đạt hiệu quả trên thực tế, Nhà nước đã không ngừng từng bước hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực bổ trợ tư pháp bao gồm những quy định mới như:

- Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03-02-2021 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật công chứng;

- Thông tư số 01/2020/TT-BTP ngày 03-3-2020 Quy định chi tiết và hướng dẩn thi hành một số điều cùa nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16-02-2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch;

- Văn Bản Hợp nhất số 01/VBHN-VPQH ngày 15-7-2020 của VP Quốc Hội hợp nhất luật giám định tư pháp;

- Văn bản hợp nhất số 293/VBHN-BTP ngày 02-02-2021 hợp nhất nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành luật giám định tư pháp;

- Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28-5-2020 Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật hộ tịch và nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15-11-2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch nhằm tạo cơ chế vận hành đồng bộ với hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động tư pháp.

Bên cạnh đó, pháp luật về bổ trợ tư pháp ngoài việc tạo ra các cơ chế pháp lý cho các hoạt động này thì còn giúp cho các hoạt động tư pháp nâng cao được hiệu quả, đồng thời còn góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, cũng như giúp cho các cơ quan tư pháp thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình.

Nhằm giúp cho những người làm công tác tư pháp nói chung và những người làm nhiệm vụ liên quan đến hoạt động bổ trợ tư pháp nắm vững những quy định về bổ trợ tư pháp, Nhà Xuất bản Hồng Đức xuất bản cuốn sách: Hướng dẫn văn bản pháp luật về Công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch (Dùng cho: Cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn; Công an; Tòa án; Viện kiểm sát; Luật sư; Công chứng viên và học viên, sinh viên luật) do Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp hệ thống.

Cuốn sách được bố cục thành bốn phần:

Phần I. Các quy định về công chứng

Phần II. Các quy định về chứng thực

Phần III. Các quy định về giám định

Phần IV. Các quy định về hộ tịch.

 

4. Đánh giá bạn đọc

Tác giả đã hệ thống trong cuốn sách những văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực thi hành trong đó có văn bản mới ban hành hướng dẫn về Công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch rất thuận tiện cho bạn đọc tra cứu, tìm hiểu và áp dụng trên thực tế.

Cuốn sách được hệ thống góp phần tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật mới về công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch triển khai hiệu quả hơn trên thực tế.

Cuốn sách "Hướng dẫn văn bản pháp luật về Công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch" là tài liệu cần trang bị đối với cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn; Công an; Tòa án; Viện kiểm sát; Luật sư; Công chứng viên để bổ trợ trong công tác và học viên, sinh viên luật trong học tập, nghiên cứu.

 

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Hướng dẫn văn bản pháp luật về Công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch".

Nếu bạn có khó khăn trong việc tra cứu hiệu lực văn bản hay quy định pháp luật trong lĩnh vực nào đó, hãy liên hệ tổng đài 1900.6162 của Luật Minh Khuê, chúng tôi sẽ hỗ trợ giải đáp chính xác và nhanh chóng nhất giúp bạn!

Câu hỏi 1: Công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 8 Thông tư 01/2021/TT-BTP quy định về công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài thì, Người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài được công nhận tương đương trong các trường hợp sau đây:

a) Có văn bằng đào tạo nghề công chứng được cấp bởi cơ sở đào tạo ở nước ngoài thuộc phạm vi áp dụng của Hiệp định về tương đương văn bằng hoặc công nhận lẫn nhau về văn bằng hoặc Điều ước quốc tế có liên quan đến văn bằng mà Việt Nam là thành viên;

b) Có văn bằng đào tạo nghề công chứng được cấp bởi cơ sở đào tạo ở nước ngoài mà chương trình đào tạo nghề công chứng đã được cơ quan kiểm định chất lượng của nước đó công nhận hoặc được cơ quan có thẩm quyền của nước đó cho phép thành lập và được phép cấp văn bằng.

Về thủ tục:

Người đề nghị công nhận tương đương văn bằng đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính 01 bộ hồ sơ đến Bộ Tư pháp. Hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau đây:

a) Giấy đề nghị công nhận tương đương đào tạo nghề công chứng (mẫu TP-CC-01);

b) Bản sao văn bằng và bản sao kết quả đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài đã được hợp pháp hóa lãnh sự, được dịch ra tiếng Việt và bản dịch tiếng Việt phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản có nêu rõ lý do.

Câu hỏi 2: Pháp luật quy định như thế nào về cách ghi số chứng thực?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 01/2020/TT-BTP hướng dẫn cách ghi số chứng thực như sau:

1. Số chứng thực bản sao từ bản chính theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 20 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP là số chứng thực được ghi theo từng loại giấy tờ được chứng thực; không lấy số chứng thực theo lượt người yêu cầu chứng thực.

Ví dụ: ông A yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính 03 (ba) loại giấy tờ: chứng minh nhân dân mang tên ông Nguyễn Văn A, chứng minh nhân dân mang tên bà Nguyễn Thị B và sổ hộ khẩu của hộ gia đình ông Nguyễn Văn A. Khi lấy số chứng thực, bản sao chứng minh nhân dân mang tên ông Nguyễn Văn A được ghi một số, bản sao chứng minh nhân dân mang tên bà Nguyễn Thị B được ghi một số và bản sao sổ hộ khẩu của hộ gia đình ông Nguyễn Văn A được ghi một số. Như vậy, cơ quan thực hiện chứng thực sẽ lấy 03 (ba) số chứng thực khác nhau cho 03 (ba) loại giấy tờ.

2. Số chứng thực chữ ký trên giấy tờ, văn bản và chứng thực chữ ký người dịch là số chứng thực được ghi theo từng loại giấy tờ, văn bản cần chứng thực chữ ký; không lấy số chứng thực theo lượt người yêu cầu chứng thực.

Ví dụ 1: Ông Trần Văn H yêu cầu chứng thực chữ ký trên tờ khai lý lịch cá nhân và giấy ủy quyền nhận lương hưu, thì phải ghi thành 02 (hai) số chứng thực khác nhau. 01 (một) số đối với chứng thực chữ ký trên tờ khai lý lịch cá nhân và 01 (một) số đối với chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền nhận lương hưu.

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B yêu cầu chứng thực chữ ký người dịch (theo mẫu chữ ký người dịch đã đăng ký với Phòng Tư pháp) đối với 03 (ba) loại giấy tờ: bản dịch hộ chiếu, bản dịch thư mời hội nghị và bản dịch hợp đồng. Mỗi loại bản dịch phải ghi 01 (một) số chứng thực. Trong trường hợp này, Phòng Tư pháp sẽ lấy 03 (ba) số chứng thực, không được ghi gộp 03 (ba) việc thành 01 (một) số chứng thực cho một người.

3. Số chứng thực hợp đồng được ghi theo từng việc; không lấy số theo lượt người yêu cầu hoặc theo số bản hợp đồng.

Ví dụ: ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị M yêu cầu chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chứng thực hợp đồng cho thuê cửa hàng. Trong trường hợp này phải lấy 01 (một) số chứng thực cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và 01 (một) số chứng thực cho hợp đồng thuê cửa hàng.

Câu hỏi 3: Giấy tờ, văn bản đã được chứng thực không đúng quy định pháp luật có giá trị pháp lý không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 7 Thông tư 01/2020/TT-BTP quy định về giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản đã được chứng thực không đúng quy định pháp luật thì:

1. Các giấy tờ, văn bản được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký không đúng quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và Thông tư này thì không có giá trị pháp lý.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực quy định tại khoản 1 Điều này đối với giấy tờ, văn bản do Phòng Tư pháp chứng thực. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực quy định tại khoản 1 Điều này đối với giấy tờ, văn bản do cơ quan mình chứng thực.

Sau khi ban hành quyết định hủy bỏ giấy tờ, văn bản chứng thực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm đăng tải thông tin về giấy tờ, văn bản đã được chứng thực nhưng không có giá trị pháp lý lên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

3. Người đứng đầu Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và các cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực quy định tại khoản 1 Điều này đối với giấy tờ, văn bản do cơ quan mình chứng thực và đăng tải thông tin về giấy tờ, văn bản đã được chứng thực nhưng không có giá trị pháp lý lên Trang thông tin điện tử của cơ quan mình.

4. Việc ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý và đăng tải thông tin thực hiện ngay sau khi phát hiện giấy tờ, văn bản đó được chứng thực không đúng quy định pháp luật.

Thông tin thêm:

  • Cuốn sách Hướng dẫn văn bản pháp luật về Công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch có giá bìa là 395.000 đồng.
  • Cuốn sách Hướng dẫn văn bản pháp luật về Công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch dày hơn 400 trang.
  • Cuốn sách Hướng dẫn văn bản pháp luật về Công chứng, chứng thực, giám định tư pháp và hộ tịch xuất bản năm 2022.