1. Giới thiệu tác giả

Sách Bình luận khoa học Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 do tập thể tác giả gồm PGS.TS. Trần Văn Luyện, TS. Lê Văn Thư, LS. Phạm Thị Thu, TS. Nguyễn Mai Bộ, TS. Nguyễn Ngọc Hà, LS. ThS. Phạm Thanh Bình và LS. ThS. Nguyễn Cao Hùng biên soạn.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Bình luận khoa học Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 (PGS.TS. Trần Văn Luyện)

Bình luận khoa học Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015

Tác giả: PGS.TS. Trần Văn Luyện

Nhà xuất bản Công an nhân dân

 

3. Tổng quan nội dung sách

Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS 2015) với 510 Điều gồm 9 phần, 36 chương. So với BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 đã bổ sung mới 176 Điều, sửa đổi 317 Điều, giữ nguyên 17 Điều, bãi bỏ 26 Điều. Là đạo luật quan trọng về tố tụng, BLTTHS 2015 đã kế thừa và phát triển một bước pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta, thể chế hóa đầy đủ, toàn diện chủ trương, đường lối của Đảng thể hiện trong các văn kiện Đại hội lần thứ XI, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược và xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý công minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Do đó, việc hiểu và áp dụng các quy định của BLTTHS 2015 về trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết các nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; cũng như nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân và vấn đề hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là những vấn đề rất quan trọng và cần thiết.

Để góp phần thực hiện Nghị quyết số 110/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội khóa XIII về việc thi hành BLTTHS, kế hoạch triển khai thi hành BLTTHS 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 371/QĐ-TTg ngày 9/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự 2015" do nhóm tác giả gồm những nhà khoa học, những chuyên gia làm công tác thực tiễn, chuyên gia tham gia Tổ biên tập xây dựng dự thảo các BLTTHS năm 1988 (sửa đổi, bổ sung năm 1990, năm 1992, năm 2000), năm 2003 và năm 2015 có kinh nghiệm, trình độ trong các lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, xây dựng, thi hành và áp dụng pháp luật về tố tụng hình sự, giải thích, bình luận.

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc tương ướng chương mục của Bộ luật tố tụng hình sự. Cụ thể gồm các chương sau:

Chương 1. Phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự

Chương 2. Những nguyên tắc cơ bản

Chương 3. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có quyền tiến hành tố tụng

Chương 4. Người tham gia tố tụng

Chương 5. Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Chương 6. Chứng minh và chứng cứ

Chương 7. Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế

Chương 8. Hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng

Chương 9. Khởi tố vụ án hình sự

Chương 10. Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự

Chương 11. Khởi tố bị can và hỏi cung bị can

Chương 12. Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng

Chương 13. Khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật

Chương 14. Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra

Chương 15. Giám định và định giá tài sản

Chương 16. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Chương 17. Tạm đình chỉ điều tra và kết thúc điều tra

Chương 18. Những quy định chung về truy tố

Chương 19. Quyết định việc truy tố bị can

Chương 20. Những quy định chung về xét xử vụ án hình sự

Chương 21. Xét xử sơ thẩm

Chương 22. Xét xử phúc thẩm

Chương 23. Bản án, quyết định được thi hành ngay và thẩm quyền ra quyết định thi hành án

Chương 24. Một số thủ tục về thi hành án tử hình, xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích

Chương 25. Thủ tục giám đốc thẩm

Chương 26. Thủ tục tái thẩm

Chương 27. Thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Chương 28. Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi

Chương 29. Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

Chương 30. Thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Chương 31. Thủ tục rút gọn

Chương 32. Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự

Chương 33. Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

Chương 34. Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Chương 35. Những quy định chung về hợp tác quốc tế

Chương 36. Một số hoạt động hợp tác quốc tế

Dưới đây là trích đoạn nội dung bình luận Điều 86 BLTTHS 2015 được trình bày trong cuốn sách để bạn đọc tham khảo:

Điều 86. Chứng cứ

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Bình luận:

1. Chứng cứ là những gì có thật, tức là phải tồn tại trong thực tế khách quan. Vụ phạm tội xảy ra là hoạt động vật chất, để lại thông tin dấu vết làm biến đổi môi trường xung quanh và chính cả người phạm tội, nên tồn tại khách quan. Quá trình phát hiện các thông tin dấu vết, vật chứng về tội phạm và vụ án là quá trình thu thập thông tin chứng cứ chứng minh tội phạm, là quá trình hoạt động vật chất nên tồn tại khách quan. Vì vậy, chứng cứ lịch sử dụng làm căn cứ để xác định tội phạm, người phạm tội và những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, Phải tồn tại trong thực tế khách quan, nói cách khác chứng cứ phải có tính khách quan.
Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của những người tiến hành tố tụng. Điều này đòi hỏi những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nhận thức đúng về chúng. Nếu nhận thức không đúng, chủ quan, suy diễn về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án, thì những tài liệu phản ánh nhận thức của họ không khách quan, không được công nhận là chứng cứ.
2. Chứng cứ được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, vì vậy chứng cứ phải có tính liên quan tới vụ án đang điều tra thụ lý. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể thu thập được nhiều tài liệu khác nhau, nhưng chỉ những tài liệu nào có liên quan có khả năng làm rõ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết đúng đắn vụ án, mới có thể được coi là chứng cứ.
3.  Để được xác nhận là chứng cứ, ngoài việc thỏa mãn tính khách quan và tính có liên quan, còn phải thỏa mãn tính hợp pháp, tức là chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do bộ luật tố tụng hình sự quy định.
Nếu như tính khách quan và tính liên quan của chứng cứ thể hiện phương diện khách quan, thì tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện phương diện pháp lý. Đây là ba thuộc tính của chứng cứ, không thể thiếu thuộc tính nào, thể hiện nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự.
4.  Bộ luật tố tụng hình sự quy định có 07 nguồn chứng cứ, các cơ quan tiến hành tố tụng rút ra thông tin gọi là chứng cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
5. Những điểm mới của điều luật so với quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003
- Điều luật được tách làm hai, quy định nguồn chứng cứ thì một điều luật riêng.
- Bỏ cụm từ "mà cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và tòa án", thay bằng từ "được".
- Thay từ "cần thiết" bằng cụm từ "có ý nghĩa"; bỏ từ "đúng đắn".

 

4. Đánh giá bạn đọc

Dựa vào các quy định trong BLTTHS 2015, so sánh với các quy định tương ứng trong BLTTHS 2003, đối chiếu với thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, nhóm tác giả đã giải thích, bình luận một cách khoa học 510 Điều luật cụ thể, từ đó làm rõ 11 nội dung lớn đã được sửa đổi, bổ sung theo chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp 2013.

Với nội dung, cấu trúc và cách thức tiếp cận vấn đề khoa học, khách quan và toàn diện, cuốn sách là bộ tài liệu tham khảo có giá trị, cung cấp những thông tin mới, kiến thức cụ thể, thiết thực về thi hành và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự cho cán bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang, học viên, sinh viên và nhân dân, nhất là đối với những người làm công tác thực tiễn, trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm trong quá trình triển khai thực hiện BLTTHS 2015, đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu BLTTHS 2015 của giảng viên, học sinh, sinh viên chuyên ngành luật và nhân dân trong phạm vi cả nước.

 

5. Kết luận

Cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015" do PGS.TS Trần Văn Luyện và nhóm tác giả biên soạn không chỉ có giá trị về mặt khoa học pháp lý mà có có ý nghĩa thực tiễn đối với bạn đọc, góp phần vào việc triển khai thực hiện hiệu quả các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trên thực tế.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!