1. Giới thiệu tác giả

Sách Bình luận khoa học các điều của Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 do PGS.TS Vũ Văn Nhiêm làm chủ biên.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Bình luận khoa học các điều của Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 của TS. Vũ Văn Nhiêm

Sách Bình luận khoa học các điều của Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

Tác giả: PGS.TS Vũ Văn Nhiêm (chủ biên)

Nhà xuất bản Hồng Đức

 

3. Tổng quan nội dung sách

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014. Hiến pháp năm 2013 đã kết tinh được trí tuệ của ý Đảng, lòng dân và sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị. Với bố cục 11 chương, 120 điều, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự là Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới.

Hiến pháp có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất, mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.

Nhằm nâng cao nhận thức về Hiến pháp, ý thức chấp hành Hiến pháp, bảo đảm Hiến pháp được tuân thủ và nghiêm chỉnh chấp hành trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, tập thể giảng viên khoa Luật Hành chính - Nhà nước trường Đại học Luật TP. HCM ra mắt cuốn sách: Bình luận khoa học các điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (PGS.TS Vũ Văn Nhiêm chủ biên)

Hiến pháp là văn bản mang tính chính trị - pháp lý có nội dung đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu công phu và từng bước hoàn thiện. Nội dung trong cuốn sách này là sự nghiên cứu bước đầu, đề cập những nội dung cơ bản nhất về các chương, điều của Hiến pháp.

Nội dung cuốn sách được trình bày theo chương mục như sau:

Lời nói đầu

Giải thích và bình luận

Chương I. Chế độ chính trị

Tại chương này tác giả trích dẫn từng điều luật và tương ứng bên dưới là giải thích và bình luận điều luật đó.

Chương II. Quyền con người, nguyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Tương tự như ở chương I, ở chương này tác giả cũng trích từng điều luật và bình luận giải thích ngay bên dưới.

Chương III. Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường

Chương IV. Bảo vệ tổ quốc

Chương V. Quốc hội

Chương VI. Chủ tịch nước

Chương VII. Chính phủ

Chương VIII. Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Chương IX. Chính quyền địa phương

Chương X. Hội đồng bầu cử quốc gia, kiểm toán nhà nước

Chương XI. Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp

Những điểm mới của Chương II Hiến pháp năm 2013 "Quyền con người, nguyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân"

Nội dung 36 điều của Chương II Hiến pháp năm 2013 đã có thể quán xuyến được hầu hết các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa được ghi nhận trong Bộ luật nhân quyền quốc tế (International Bill on Human Rights). Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Trưởng Ban soạn thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khái quát: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đề cao, được đưa lên vị trí trang trọng hàng đầu trong Hiến pháp (Chương II). Đó vừa là kế thừa Hiến pháp năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh - Trưởng ban soạn thảo; vừa thể hiện nhận thức mới, đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và nhà nước ta về đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”. Những tiến bộ vượt bậc của Chương II Hiến pháp năm 2013 trong việc ghi nhận và thực thi các công ước quốc tế về quyền con người tại Việt Nam được thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau đây:

1. Hiến pháp năm 2013 đã đổi tên Chương là “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”, so với tên gọi cũ của Chương này trong Hiến pháp năm 1992 là “quyền và nghĩa vụ công dân”. Từ xác định tên Chương, Hiến pháp năm 1992 chỉ bàn chủ yếu đến quyền công dân, chưa bao quát hết nội dung cần có là quyền con người. Hiến pháp năm 2013 đã khắc phục nhược điểm này, đã hiến định những yêu cầu cơ bản về bảo đảm quyền con người và quyền công dân, trong đó quyền con người lần đầu tiên được đưa vào tên Chương ở cụm từ đầu tiên trong tên gọi của Chương.

2. Hiến pháp năm 2013 đã chuyển Chương “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân” từ vị trí Chương 5 trong Hiến pháp năm 1992 lên vị trí Chương 2. Việc chuyển  đổi vị trí của Chương không thuần túy là động tác kỹ thuật, sự chuyển đổi này cho thấy các nhà lập hiến đã nhận thức rõ về tầm quan trọng của chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp. Kinh nghiệm lập hiến của các nước trên thế giới cho thấy nhiệm vụ chủ yếu của Hiến pháp là quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và xác định phạm vi quyền lực nhà nước. Xuất phát từ tư duy mới về Hiến pháp, kinh nghiệm lập hiến và tình hình thực tế, nội dung quyền con người quyền công dân đã “… được đưa lên vị trí trang trọng hàng đầu trong Hiến pháp” (Nguyễn Sinh Hùng).

3. Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm cùng loại, đồng dạng nhưng không đồng nhất mà có những giá trị xã hội khác nhau. Hiến pháp năm 2013 không còn đồng nhất quyền con người và quyền công dân như ở Điều 50 Hiến pháp năm 1992 khi quy định quyền con người “…thể hiện ở quyền công dân”. Hiến pháp năm 2013 đã sử dụng cả 2 thuật ngữ “quyền con người” và “quyền công dân” với những nội dung được xác định rõ ràng, thể hiện các quyền và tự do hiến định để bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân. Quan điểm khẳng định mạnh mẽ giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 là một quan điểm được đồng thuận cao trong lần thảo luận để ban hành Hiến pháp lần này ở Việt Nam.

Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định chủ thể quyền là công dân thì Hiến pháp năm 2013 quy định chủ thể quyền không chỉ là công dân mà quyền của con người, của mọi người, quyền của mỗi người đều có chứ không chỉ công dân. Như vậy, với những quyền này, không chỉ công dân Việt Nam mà tất cả, mọi người, mỗi người với tư cách thành viên xã hội, người nước ngoài có mặt trên lãnh thổ Việt Nam… cũng được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền con người. Hiến pháp năm 2013 xác định rất rõ ràng về tính riêng biệt của quyền con người, quyền công dân. Trong 36 điều của Chương II khi dùng “mọi người” tức là chủ thể của quyền con người, bao gồm cả công dân. Quyền con người nói chung (bao gồm cả công dân) được nhắc đến trong “mọi người”, trong tất cả những “không ai”, “tổ chức, cá nhân”, “Người Việt Nam ở nước ngoài”, “người nước ngoài cư trú ở Việt Nam”. Trong tất cả những điều khoản không nhắc đến chủ thể hoặc đối tượng cụ thể thì đều được hiểu chủ thể của quyền không chỉ là công dân. Những quy định mới này phù hợp với Luật nhân quyền quốc tế, các điều ước quốc tế về nhân quyền và với chủ trương, chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

4. Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ đề cập đến nghĩa vụ tôn trọng ở Điều 50, thì Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng ghi nhận cả ba nghĩa vụ của nhà nước là nghĩa vụ tôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ bảo đảm thực hiện quyền con người. Quy định này được thể hiện trong các Điều 3 và Điều 14 Hiến pháp năm 2013 tương ứng với các quy định về nghĩa vụ quốc gia trong Luật nhân quyền quốc tế. Sự bổ sung mới này của Hiến pháp năm 2013 có ý nghĩa rất quan trọng,  không chỉ bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật Việt Nam với luật nhân quyền quốc tế mà còn tạo cơ sở hiến định ràng buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà nước về quyền con người, quyền công dân trong thực tế, đặc biệt là hai nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm thực hiện chứ không chỉ là tôn trọng chung chung như cách hiểu của Điều 50 Hiến pháp năm 1992.  

5. Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định nguyên tắc về giới hạn quyền tại khoản 2 Điều 14 mà trong các Hiến pháp trước đây quy định chưa rõ. Đây là nguyên tắc đã được nêu trong Luật nhân quyền quốc tế và trong Hiến pháp của một số quốc gia, chẳng hạn tại Điều 29 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, Điều 4 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 và một số điều trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966.

Việc hiến định nguyên tắc giới hạn quyền ở Điều 14 Hiến pháp năm 2013 có ý nghĩa quan trọng: (i) Làm sâu sắc hơn tinh thần của Luật nhân quyền quốc tế là các nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền con người ngay cả khi nhà nước đặt ra và áp dụng những giới hạn một số quyền nhằm thực hiện chức năng của nhà nước là quản lý xã hội, nhằm bảo đảm các quyền, lợi ích chung của cộng đồng và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác; (ii) Ngăn chặn khả năng lạm dụng quyền lực nhà nước để vi phạm quyền con người, quyền công dân, thông qua việc ấn định những điều kiện chặt chẽ việc giới hạn quyền. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừa các cơ quan nhà nước tùy tiện giải thích và hạn chế các quyền hiến định mà đã xảy ra khá nhiều ở Việt Nam, bởi nó nêu rõ những lý do có thể được sử dụng để hạn chế quyền, cùng với việc giới hạn chủ thể duy nhất là Quốc hội mới có thể quyết định việc này (bằng luật), chứ không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào (bằng pháp luật) như trong Hiến pháp năm 1992. (iii) Phòng ngừa những suy nghĩ và hành động cực đoan trong việc hưởng thụ các quyền mà không chú ý đến quyền và tự do của người khác và xã hội..

Chương II Hiến pháp năm 2013 khẳng định và bảo đảm tôn trọng quyền và tự do của mỗi người, đồng thời đòi hỏi mỗi người thực hiện quyền trong mối quan hệ tôn trọng quyền và tự do của người khác. Điều 15 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng tự do của người khác… Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

6. Thực hiện nguyên tắc kế thừa và phát triển trong sửa đổi bổ sung Hiến pháp, Chương II Hiến pháp năm 2013 đã củng cố hầu hết các quyền được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 nhưng quy định rõ hơn hoặc được tách thành các điều riêng cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn và các quy định trong các điều ước quốc tế về nhân quyền. Nhiều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong các Hiến pháp trước đây đã được bổ sung, hoàn thiện, làm mới theo tư duy mới hoặc tách ra thành các điều riêng như các quyền: Bình đẳng trước pháp luật (Điều 16); Cấm tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình (Điều 20 khoản 1); Bảo vệ đời tư và nơi ở (Điều 21, 22); Tiếp cận thông tin (Điều 25); Tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); Bình đẳng giới (Điều 26); Bỏ phiếu trong trưng cầu ý dân (Điều 29); Tố tụng công bằng (Điều 31); Sở hữu tư nhân (Điều 32); Lao động, việc làm (Điều 35). Các quy định này trong Hiến pháp không chỉ thể hiện rõ hơn nội hàm khái niệm và nội dung các quyền mà còn nâng cao tính khả thi của những quy định về quyền ngay trong Hiến pháp.

7. Chương II Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận một số quyền mới mà Hiến pháp năm 1992 và các Hiến pháp trước đó của Việt Nam đều chưa đề cập, nhưng những nội dung này đã được xác định rõ ràng trong các điều ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên, bao gồm: Quyền sống (Điều 19); Các quyền về văn hóa (Điều 41); Quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); Quyền sống trong môi trường trong lành (Điều 43); Quyền của công dân không bị trục xuất, giao nộp cho nước khác (Điều 17 khoản 2); Quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); Quyền hưởng an sinh xã hội (Điều 34)… Những quyền mới này đã mở rộng phạm vi bảo vệ, bảo đảm thực hiện của Hiến pháp với các quyền con người, quyền công dân trên cả hai lĩnh vực: dân sự, chính trị (Điều 21, 17, 42) và kinh tế, xã hội, văn hóa (Điều 41, 42, 43, 22, 34) ở nước ta, phù hợp với Luật nhân quyền quốc tế. Nhiều quyền mới được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 đáp ứng những nhu cầu mới về quyền con người nảy sinh trong thời kỳ đổi mới đất nước (Điều 43, 22, 34) và hội nhập quốc tế (Điều 17, 41, 42, 22) của Việt Nam.

 

4. Đánh giá bạn đọc

Bằng việc trích dẫn và giải thích, bình luận từng điều luật trong Hiến pháp năm 2013, tác giả đã làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến từng chương, chế định, điều khoản cụ thể. Đặc biệt, các tác giả đã phân tích những điểm mới và ý nghĩa việc đổi mới của Hiến pháp năm 2013 so với các bản Hiến pháp trước đây, từ đó đề xuất những giải pháp thực thi từ góc độ nhận thức và quan điểm khoa học của cá nhân các nhà luật học và các chuyên gia. Đây là cuốn sách có ý nghĩa về mặt pháp lý, khoa học và thực tiễn được nhiều bạn đọc sở hữu đánh giá cao và hài lòng.

Cuốn sách góp phần giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về đạo luật cơ bản của nhà nước Việt Nam. Giúp người đọc vừa nhận diện một cách tổng quát vừa xác định cụ thể từng điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với các bản Hiến pháp trước đó. 

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!