1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013" GS.TS. Nguyễn Đăng Dung - PGS.TS. Trịnh Quốc Toản - PGS.TS. Đặng Minh Tuấn (đồng chủ biên).
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung - PGS.TS. Trịnh Quốc Toản - PGS.TS. Đặng Minh Tuấn (đồng chủ biên)
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
3. Tổng quan nội dung sách
Ngày 28-11-2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp mới, với 97,59% (486/488) đại biểu có mặt bỏ phiếu tán thành. Hiến pháp năm 2013 có nhiều quy định mới so với Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001.
Các nội dung của Hiến pháp năm 2013 được thực hiện thông qua hoạt động rà soát, sửa đổi, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật của Nhà nước đồng thời với hoạt động giải thích, bình luận khoa học từ giới học giả, các nhà nghiên cứu.
Để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, việc tuyên truyền, phổ biến và làm rõ các nội dung cụ thể của Hiến pháp năm 2013 qua các hình thức tìm hiểu, hỏi - đáp và đặc biệt là bình luận khoa học để làm sáng rõ nội dung của Hiến pháp hiện hành cho toàn dân là điều hất sức cần thiết, góp phần đưa Hiến pháp năm 2013 vào đời sống đạt hiệu quả cao.
Mục đích của cuốn sách này là cung cấp một cái nhìn tổng quát và khoa học về những nội dung quy định cơ bản của Hiến pháp năm 2013 phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy về Hiến pháp, đồng thời để tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp cũng như cung cấp những luận cứ khoa học cho hoạt động xây dựng pháp luật.
Nhóm tác giả của cuốn sách này là tập thể các giảng viên Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội – trung tâm nghiên cứu mạnh về Luật Hiến pháp ở Việt Nam. Mặc dù đã rất nỗ lực, cuốn sách này chắc vẫn còn những điểm khiếm khuyết. Nhóm tác giả thấy rằng, cần phải tiếp tục hoàn thiện cuốn sách này trong các lần tái bản sau nhằm mục tiêu có các nội dung bình luận đa chiều hơn, gắn bình luận từng điều khoản với bối cảnh, thực tiễn thực thi Hiến pháp năm 2013.
Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc gồm 9 chương
Chương I: Chế độ chính trị
Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Chương III: Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường
Chương IV: Bảo vệ Tổ quốc
Chương V: Quốc hội
Chương VI: Chủ tịch nước
Chương VII: Chính phủ
Chương VIII: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
Chương IX: Chính quyền địa phương
Chương X: Hội đồng bầu cử Quốc gia, Kiểm toán nhà nước
Chương XI: Hiệu lực của Hiến pháp và việc sử đổi Hiến pháp
4. Đánh giá bạn đọc
Cuốn sách “Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hoà xã hộic hủ nghĩa Việt Nam năm 2013” là công trình khoa học do tập thể tác giả của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội biên soạn đã làm rõ nội hàm của các quy định trong Hiến pháp năm 2013, từ Lời nói đầu đến Chương XI – Hiệu lực của Hiếp pháp và việc sửa đổi Hiến pháp, qua đó làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến từng chương, chế định, điều khoản cụ thể. Đặc biệt, các tác giả đã phân tích những điểm mới và ý nghĩa của việc đổi mới Hiến Pháp năm 2013 so với các bản Hiến pháp trước đây, từ đó đề xuất những giải pháp thực thi từ góc độ nhận thức và quan điểm khoa học của cá nhân cấc nhà luật học và các chuyên gia. Đây là cuốn sách có ý nghĩa về mặt pháp lý, khoa học và thực tiễn đối với bạn đọc.
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013".
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây điểm mới tại chương III về Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường của Hiến pháp 2013 để bạn đọc tham khảo:
Hiến pháp 2013 đã gộp Chương II và Chương III của Hiến pháp 1992, thể hiện được sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với các vấn đề khác của xã hội, và bổ sung thêm nội dung môi trường là một điểm mới, rất phù hợp thực tế hiện nay.
Quan điểm phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường của Đảng đã được Hiến pháp thể chế hóa, quy định ở trong cùng một chương (Chương III). Các quy định này mang tính khái quát, ổn định về mục tiêu, định hướng và các chính sách cơ bản ở tầm vĩ mô làm căn cứ pháp lý cao nhất cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ và môi trường.
Hiến pháp mới không nêu cụ thể các thành phần kinh tế như Hiến pháp 1992, nhưng Hiến pháp xác định rõ với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Lần đầu tiên doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác được ghi trong Hiến pháp; “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Điều 50).
Về các thành phần kinh tế: Điều 51: “1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. 2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. 3. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.
Về quản lý đất đai: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý’ (Điều 53).
Điều 54: “1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật. 2. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ. 3. Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật. 4. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.
Về Tài chính công: Điều 55 Hiến pháp quy định: “1. Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. 2. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong đó ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm nhiệm vụ chi của quốc gia. Các khoản thu, chi ngân sách nhà nước phải được dự toán và do luật định. 3. Đơn vị tiền tệ quốc gia là Đồng Việt Nam. Nhà nước bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền quốc gia”. Điều 56: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước”.
Về Xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường: Hiến pháp 2013 quy định bởi các Điều 57 đến Điều 63. Điểm mới là: “Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định (Điều 57).
Chăm sóc sức khỏe nhân dân: Hiến pháp quy định: “1. Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. 2. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình” (Điều 58).
Chính sách tôn vinh, khen thưởng: Điều 59:“1. Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước. 2. Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác. 3. Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở.”
Chính sách phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: Điều 60: “1. Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. 2. Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của Nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 3. Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân”.
Chính sách giáo dục: Hiến pháp 2013 quy định: “1. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. 2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý. 3. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề”. (Điều 61).
Chính sách Khoa học: Điều 62: “1. Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. 3. Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ”.
Chính sách về Môi trường: Điều 63: “1. Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. 2. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Hiến pháp bổ sung quy định: Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại.