1. Giới thiệu tác giả

Sách Bình luận khoa học Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự do Trung tướng, GS.TS Nguyễn Ngọc Anh làm chủ biên.

Trung tướng, GS.TS. Nguyễn Ngọc Anh là Cục trưởng Cục Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp thuộc Bộ Công an, Thường trực Ban soạn thảo, Tổ trưởng Tổ biên tập dự án Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Bình luận khoa học Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự - Trung tướng, GS.TS Nguyễn Ngọc Anh

Sách Bình luận khoa học Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự

Tác giả: Trung tướng, GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên)

Nhà xuất bản tư pháp

3. Tổng quan nội dung sách

Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 thay thế Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006 và 2009), bao gồm 10 chương, 73 điều.

Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự được ban hành đã thể chế hóa chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt động điều tra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW; cụ thể hóa một bước các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động điều tra hình sự; bảo đảm phù hợp, đồng bộ với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự được ban hành đánh dấu một bước tiến mới về hoàn thiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực điều tra sự. Bên cạnh nhiều quy định mới, quan trọng thể hiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia đảm trật tự, an toàn xã hội thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Luật tổ chức quan điều tra hình sự chú trọng kế thừa các quy định còn nhỏ, hợp và được hoàn thiện một bước về kỹ thuật lập pháp. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức cơ quan điều tra hình sự tập trung, thống nhất, có sự phân công, phân cấp rành mạch và được kiểm soát chặt chẽ; bảo đảm hoạt động điều tra hình sự được nhanh chóng, kịp thời, chính xác, khách quan, toàn diện, đầy đủ, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội theo đúng mục tiêu cải cách tư pháp của Đảng đề ra.

Nhằm giúp bạn đọc, nhất là các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ làm công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và đội ngũ giảng viên, giáo viên, sinh viên trong các học viện, nhà trường đào tạo luật học có thêm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, tìm hiểu về Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Minh Khuê trân trọng giới thiệu cuốn sách "Bình luận khoa học Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự" do Trung tương, GS.TS Nguyễn Ngọc Anh làm chủ biên.

Cuốn sách được trình bày thành các chương mục như sau:

Chương 1. Những quy định chung

Chương 2. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra của công an nhân dân

Chương 3. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân

Chương 4. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Chương 5. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách trình bày phần bình luận dưới mỗi điều luật đã trích dẫn, bên cạnh việc phân tích, bình luận các điều luật, các tác giả còn so sánh các quy định của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự với các quy định tương ứng của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006 và 2009), thống kê, cung cấp các số liệu có liên quan để phần nào lý giải về lịch sử hình thành, phát triển và những quy định mới của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

Cụ thể như sau:

Điều 15. Tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra

1. Tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an gồm có các phòng Điều tra, phòng nghiệp vụ và Văn phòng Cơ quan An ninh Điều tra.

2. Tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh Điều tra Công an cấp tỉnh gồm có các đội Điều tra, đội nghiệp vụ và bộ máy giúp việc Cơ quan An ninh Điều tra.

Bình luận:

Khoản 1 Điều luật quy định Cơ quan An ninh điều tra Bộ công an gồm có các phòng điều ta, phòng nghiệp vụ và Văn phòng cơ quan An ninh điều tra. Các đơn vị này trực thuộc Cục An ninh điều tra, Bộ Công an. Mô hình tổ chức của Cục An ninh điều tra hiện nay cơ bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng An ninh nhân dân. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới và đồng bộ với hệ thống pháp luật, thời gian tới cần nghiên cứu, tổng kết, đánh giá lại mô hình tổ chức của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an, tổ chức lại các phòng điều tra theo hướng vừa theo tội danh, vừa theo địa bàn để bảo đảm tính chuyên sâu, thuận lợi cho công tác chỉ đạo điều tra; xem xét quy định vụ thể hơn tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an trong Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Khoản 2 Điều luật quy định tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh gồm có các đội điều tra, đội nghiệp vụ và bộ máy giúp việc Cơ quan An ninh điều tra. Các đơn vị này trực thuộc phòng An ninh điều tra Công an cấp tỉnh. Mỗi phòng An ninh điều tra có từu 1-3 đội điều tra, còn lại là đội nghiệp vụ và bộ máy giúp việc. Mô hình này cơ bản phù hợp với tình hình thực tiễn, tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến cho rằng để bảo đảm nguyên tắc pháp chế và đồng bộ với hệ thống pháp luật, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự cần quy định cụ thể tên các đội điều tra, đội nghiệp vụ, bộ phận giúp việc của phòng An ninh điều tra. Như vậy, cũng giống Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an, tổ chức bộ máy Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh giữ nguyên như Pháp lệnh năm 2004.

Điều 16. Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an

1. Tổ chức công tác trực ban hình sự, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; phân loại và trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.

2. Tiến hành Điều tra vụ án hình sự về các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền Điều tra của Cơ quan An ninh Điều tra Công an cấp tỉnh quy định tại Khoản 2 Điều 17 của Luật này nếu xét thấy cần trực tiếp Điều tra; vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra của Công an nhân dân do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại.

3. Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ Điều tra và kiểm tra việc chấp hành pháp luật, nghiệp vụ trong hoạt động Điều tra, xử lý tội phạm của Cơ quan An ninh Điều tra Công an cấp tỉnh; hướng dẫn các cơ quan của lực lượng An ninh nhân dân thuộc Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra thực hiện hoạt động Điều tra.

4. Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục nguyên nhân, Điều kiện làm phát sinh tội phạm.

5. Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác Điều tra, xử lý tội phạm trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan An ninh Điều tra của Công an nhân dân.

6. Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bình luận:

Khoản 1 Điều luật quy định nhóm nhiệm vụ thứ nhất của Cơ quan An ninh điều tra Bộ công an gồm: Tổ chức công tác trực ban hình sự, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; phân loại và trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết. Để thực hiện nhiệm vụ này, Cơ quan An ninh điều tra phải tổ chức trực ban 24/24 giờ trong ngày, 07 ngày trong tuần để tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể là cán bộ trực ban phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận. Cán bộ tiếp nhận nguồn tin về tội phạm cần nhanh chóng nắm được những thông tin ban đầu về vụ việc, thời gian, địa điểm xảy ra vụ việc, hậu quả, mức độ, tính chất của vụ việc; họ tên, địa chỉ, số điện thoại của cá nhân hoặc tên, địa chỉ của tổ chức báo tin.

Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoaiij hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận. Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Cơ quan An ninh điều tra cần phân loại nguồn tin vừa tiếp nhận là tố giác tội phạm hay tin báo về tội phạm hay kiến nghị khởi tố. Theo quy định tại Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền; tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

......

5. Kết luận

Không đồ sộ với hệ thống văn bản, cuốn sách tập trung thẳng vào việc bình luận từng điều luật của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, bên cạnh bình luận còn có giải thích và so sánh với quy định cũ giúp người đọc không chỉ hiểu mà còn có thêm kiến thức chuyên sâu về tính lịch sử của các quy định này.

Cuốn sách thực sự là một tài liệu hữu ích đối với bạn đọc có nhu cầu nghiên cứu về tổ chức của Cơ quan điều tra hình sự nói riêng và công tác điều tra tội phạm nói chung.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!