1. Giới thiệu tác giả

Sách Bình luận Luật Hôn nhân và gia đình (Biên soạn theo các tài liệu mới nhất) do LS. Nguyễn Thị Chi biên soạn.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Bình luật luật Hôn nhân và gia đình (Nguyễn Thị Chi)

Sách Bình luận Luật Hôn nhân và gia đình (Biên soạn theo các tài liệu mới nhất)

Tác giả: LS. Nguyễn Thị Chi

Nhà xuất bản Lao động

 

3. Tổng quan nội dung sách

Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19-6-2014, Luật này thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2015.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ngoài việc kế thừa các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và loại bỏ những quy định không còn phù hợp, thì đồng thời cũng được bổ sung một số quy định mới mà đặc biệt là quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và được bố cục lại cho phù hợp với từng nhóm quan hệ nhằm bảo đảm tính logic, hợp lý.

Hiểu được nhu cầu bạn đọc, Luật sư Nguyễn Thị Chi biên soạn cuốn sách: Bình luận Luật Hôn nhân và gia đình (Biên soạn theo các tài liệu mới nhất) nhằm giúp bạn đọc nói chung, những người làm công tác pháp luật nói riêng thuận tiện trong việc nghiên cứu và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình 2014. 

Cuốn sách được biên soạn theo thứ tự chương muc điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể như sau:

Chương 1. Những quy định chung (Điều 1 đến Điều 7)

Chương 2. Kết hôn (Điều 8 đến Điều 16)

Chương 3. Quan hệ giữa vợ và chồng (Điều 17 đến Điều 50)

Chương 4. Chấm dứt hôn nhân (Điều 51 đến Điều 67)

Chương 5. Quan hệ giữa cha mẹ và con (Điều 68 đến Điều 102)

Chương 6. Quan hệ giữa các thành viên khác của gia đình (Điều 103 đến Điều 106)

Chương 7. Cấp dưỡng (Điều 107 đến Điều 120)

Chương 8. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Điều 121 đến Điều 130)

Chương 9. Điều khoản thi hành (Điều 131 đến Điều 133)

 

4. Đánh giá bạn đọc

Với cách biên soạn mới và dễ hiểu, kết hợp với việc bổ sung các thuật ngữ pháp lý cũng như các quy định mới của pháp luật có liên quan, cuốn sách giúp cho người đọc thuận tiện khi nghiên cứu và áp dụng luật.

Ngoài ra cuốn sách còn in các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình mới nhất và các văn bản có liên quan. Bên canh đó cuốn sách cũng cung cấp cho bạn đọc một số tập quán hôn nhân gia đình của một số dân tộc ở Việt Nam để bạn đọc tham khảo và áp dụng trong công việc, chuyên môn.

Dưới đây là nội dung bình luận quy định về điều kiện kết hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình để bạn đọc tham khảo:

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Bình luận:

Khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

“Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mới đủ tuổi kết hôn”.

Pháp luật chỉ quy định độ tuổi tối thiểu nam, nữ được phép kết hôn mà không quy định tuổi tối đa. Quy định này trước hết xuất phát từ cơ sở khoa học. Các nghiên cứu trong lĩnh vực y học đã chỉ rõ phải đạt đến độ tuổi này nam, nữ mới phát triển hoàn thiện về tâm sinh lý. Do vậy, họ có thể sinh ra những đứa con khỏe mạnh về thể chất và trí tuệ. Đồng thời, họ cũng đủ trưởng thành để thực hiện các nghĩa vụ của người làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ; cùng nhau chia sẻ gánh vác các công việc gia đình...Vì thế, quy định về tuổi kết hôn này góp phần tạo dựng lên những cuộc hôn nhân hạnh phúc và bền vững. Quy định này còn dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán và truyền thống, văn hóa của dân tộc. Điều này giải thích rõ vì sao tuổi kết hôn trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau. Quy định về độ tuổi kết hôn tối thiểu đối với nữ theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 thể hiện sự thống nhất và đồng bộ với các quy định trong hệ thống pháp luật. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải là người đủ 18 tuổi. Vì vậy, quy định về độ tuổi kết hôn theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 còn thể hiện sự thống nhất và đông bộ với các quy định trong hệ thống pháp luật.

- Cách tính tuổi: Với quy định về tuổi kết hôn theo pháp luật hiện hành, để tính tuổi kết hôn phải dựa vào cách tính tuổi tròn. Nghĩa là, chỉ coi là đủ tuổi kết hôn khi nam tròn 20 tuổi và nữ phải tròn 18 tuổi. Ví dụ: Nam sinh ngày 1-2-1992 thì đến ngày 1-2-2012 là đủ tuổi kết hôn. Như vậy từ ngày này trở đi, họ mới được phép kết hôn.

- Trên thực tế, vẫn có những trường họp nam nữ lấy vợ lấy chồng khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Hiện tượng này được gọi là tảo hôn. Như vậy càn phải hiểu rằng tảo hôn không chỉ là việc nam nữ kết hôn trước tuổi luật định mà còn bao gồm cả trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trước tuổi luật định. Theo điểm b khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13, “tảo hôn” được xác định là một trong các hành vi bị cấm. Vì vậy, kết hôn trước tuổi luật định sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Phải có sự tự nguyên của hai bên nam nữ

Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định: “việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” (Điểm b khoản 1 Điều 8).

- Tự nguyện trong kết hôn trước hết phải thể hiện bằng ý chí chủ quan của người kết hôn. Hai bên nam, nữ yêu thương nhau và tự mình quyết định xác lập quan hệ hôn nhân nhằm mục đích xây dựng gia đình. Ý chí này của mỗi bên nam, nữ không bị tác động bởi một bên hoặc của người thứ ba.

- Tự nguyện kết hôn còn thể hiện bằng dấu hiệu khách quan. Người kết hôn phải bày tỏ mong muốn được kết hôn với nhau trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua hành vi đăng ký kết hôn. Vì thế, khi đăng ký kết hôn yêu cầu phải cố mặt của hai bên nam, nữ.

Quyền kết hôn là quyền gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân. Do vậy việc kết hôn phải do người kết hôn tự nguyện quyết định. Tự nguyện kết hôn là đảm bảo để quan hệ hôn nhân được xác lập phù hợp với lợi ích của người kết hôn, là cơ sở để xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Vì thế, Luật Hôn nhân và gia đình không quy định việc đại diện trong kết hôn đồng thời cấm hành vi cưỡng ép, lừa dối, cản trở việc kết hôn làm cho việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện.

Người kết hôn không phải là người mất năng lực hành vi dân sự

Điểm c khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định nam, nữ khi kết hôn phải là người không bị mất năng lực hành vi dân sự.

Theo quy định theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Như vậy, tại thời điểm kết hôn mà một người có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó là người mất năng lực hành vi dân sự thì không đủ điều kiện kết hôn.

Quy định này đảm bảo tính logic với quy định về sự tự nguyện kết hôn. Bởi vì, người mất năng lực hành vi dân sự thì không thể tự nguyện bày tỏ ý chí trong việc kết hôn. Do vậy, việc chuyển hóa từ một điều cấm thành một yêu cầu đối với người kết hôn là thể hiện rõ tính nhân văn của điều kiện kết hôn này.

Thực tiễn đời sống hôn nhân và gia đình cho thấy, nhiều trường họp người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, tuy nhiên không có yêu cầu Tòa án tuyên người đó là người mất năng lực hành vi dân sự. Vì thế, họ vẫn đủ điều kiện kết hôn, trong khi đó việc kết hôn này có thể ảnh hưởng đến lợi ích của người kết hôn cũng như gia đình và xã hội. Vì vậy, cần phải có các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật cũng như ý thức tôn trọng quyền tự do kết hôn của cá nhân để mọi người tự giác thực hiện, tránh tình trạng quy định điều kiện chỉ mang tính chất hình thức.

Người kết hôn phải là hai người khác giới tính

Khoản 2 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

“Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.

Do vậy, việc kết hôn phải là việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới tính. Điều này có nghĩa, hôn nhân phải là sự “kết hợp” giữa nam và nữ. Quy định này trước hết tôn trọng quy luật tự nhiên. Mặt khác, trong bối cảnh chung của thế giới cũng như điều kiện thực tế của Việt Nam, việc quy định như vậy là cần thiết và phù hợp nhằm ổn định quan hệ hôn nhân và gia đình. Thực tế, ở Việt Nam trong những năm gần đây có xuất hiện tình trạng những người cùng giới tính xác lập việc sống chung với nhau. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng không cấm hai người cùng giới tính sống chung. Vì vậy, việc sống chung giữa hai người cùng giới tính về nguyên tắc không bị coi là trái pháp luật. Tuy nhiên, nếu một người đang có vợ, có chồng nhưng lại chung sống với người khác cùng giới tính với mình thì giải quyết như thế nào, trường họp này có xác định là người đang có vợ, có chồng đã vi phạm quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng hay không. Đây là vấn đề mà pháp luật hiện hành vẫn còn bỏ ngỏ. Nên chăng sớm có quy định cụ thể về những vấn đề này để bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan, góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình.

 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn

Pháp luật quy định các trường họp cấm kết hôn là nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng; giữ gìn thuần phong mỹ tục của người Việt Nam đối với đời sống hôn nhân và gia đình, góp phần duy trì và bảo tồn nòi giống, thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13, việc kết hôn bị cấm trong các trường hợp sau:

+ Cấm kết hôn giả tạo. Quy định điều cấm thể hiện rõ thái độ của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền tự do kết hôn của cá nhân, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, hạnh phúc.

+ Cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng hoặc cấm người chưa có vợ, có chồng kết hôn với người đang có vợ, có chồng.

Người đang có vợ, có chồng là người đang tồn tại một quan hệ hôn nhân được Nhà nước thừa nhận. Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13, các trường họp được coi là đang có vợ, có chồng bao gồm:

- Người đã kết hôn theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và quan hệ hôn nhân đó vẫn đang tồn tại (chưa chấm dứt hôn nhân do sự kiện ly hôn, hoặc một bên chết hay một bên có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết);

- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 3/01/1987 và đang chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Điều 131 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13:

“Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”.

+ Cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

- Những người có cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau (Xem khoản 17 Điểu 3 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014). Ví dụ như cha mẹ với con, ông bà với các cháu.

- Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba. Vì vậy, cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời được xác định cụ thể như sau: cấm kết hôn giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; cấm kết hôn giữa bác ruột, chú ruột, cậu ruột với các cháu gái, bác ruột, cô ruột, dì ruột với các cháu trai và cấm kết hôn giữa anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì với nhau.

Việc cấm kết hôn giữa những người có mối liên hệ huyết thống trong phạm vi trên là hoàn toàn phù hợp. Quy định này góp phần duy trì và bảo tồn nòi giống, giúp gia đình thực hiện tốt chức năng sinh đẻ, nhằm thúc đậy sự phát triển của xã hội. Bởi vì, dựa trên kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y học, các nhà khoa học đã chỉ rõ, việc kết hôn gần gũi về huyết thống trong phạm vi trực hệ hoặc ba đời sẽ để lại nhiều di chứng cho thế hệ đời sau. Thế hệ con cái của những cuộc hôn nhân này thường hay mắc các bệnh về nhiễm sắc thể, tỷ lệ tử vong sau sinh cao. Điều này là nguyên nhân làm suy giảm giống nòi, ảnh hưởng đến chất lượng dân số.

Thực tế cho thấy ở Việt Nam hiện nay, việc kết hôn giữa những người có quan hệ gần gũi về huyết thống trong phạm vi luật cấm vẫn còn tiếp diễn ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đáng báo động là tình trạng trên không được ngăn chặn có thể đe dọa dẫn đến sự diệt vong của một số dân tộc hiện đang có số dân dưới 1.000 người. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là do các hủ tục lạc hậu của đồng bào các dân tộc thiểu số. Vì thế, để giảm thiểu tình trạng này cần phải phát huy tốt hơn nữa việc xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu đối với đời sống hôn nhân và gia đình.

+ Cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Ngoài việc cấm kết hôn giữa nhưng người có quan hệ huyết thống trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 còn cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Trái lại với quan điểm cho rằng, việc quy định điều cấm này là không cần thiết. Do đó, ngay cả khi giữa những người có ỉhối liên hệ trực hệ không gắn kết bởi tính huyết thống vẫn bị cấm kết hôn. Đây là quy định điều cấm phù hợp với đạo đức, văn hóa của người Việt Nam. Do vậy, quy định điều cấm góp phần bảo vệ những nét đẹp mang giá trị văn hóa, truyền thống của người Việt Nam đối với đời sống , hôn nhân và gia đình, đồng thời góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình.

5. Kết luận

Cuốn sách “Bình luận Luật Hôn nhân và gia đình (Biên soạn theo các tài liệu mới nhất)” của TS. Nguyễn Thị Chi là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc. Không chỉ về mặt khoa học pháp lý mà còn có giá trị thực tiễn.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!