1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Bộ luật lao động (Việt - Anh - Hoa) Luật người Việt Nam đi làm ở nước ngoài theo hợp đồng lao động" do tác giả Vũ Thị Tứ hệ thống.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Bộ luật lao động (Việt - Anh - Hoa) Luật người Việt Nam đi làm ở nước ngoài theo hợp đồng lao động
Tác giả: Vũ Thị Tứ hệ thống
Nhà xuất bản Lao Động
3. Tổng quan nội dung sách
Ngày 20/11/2019, Quốc hội khóa XIV đã chính thức thông qua Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 gồm 17 chương, 220 điều, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Bộ luật Lao động mới 2019 có rất nhiều điểm mới tiệm cận hơn với các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế cơ bản, đồng thời cố gắng dung hòa quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động.
Ngày 13/11/2020, Quốc hội khóa XIV cũng thông qua Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 69/2020/QH14 có nhiều điểm mới về quyền lợi của người lao động. Luật có hiệu lực từ 01/01/2022.
Thời gian gần đây, Chính phủ cũng ban hành các Nghị định liên quan trong lĩnh vực lao động như Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14-12-2020 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, Nghị định 135/2020/NĐ-CP ngày 18-11-2020 Quy định về tuổi nghỉ hưu…
Để các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, người lao động có các tài liệu nói trên, Nhà xuất bản Lao Động giới thiệu cuốn sách: Bộ Luật Lao Động (Việt - Anh - Hoa) Luật Người Việt Nam Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng Lao Động (có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/01/2021) do tác giả Vũ Thị Tứ hệ thống.
Nội dung cuốn sách gồm các phần chính sau:
Phần thứ nhất. Bộ Luật Lao Động Năm 2019 (Việt - Anh - Hoa) (có hiệu lực từ 01/01/2021)
Phần này tác giả trình bày toàn văn Bộ luật lao động năm 2019 (dịch sang tiếng Anh và tiếng Trung Quốc)
Phần thứ hai. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động & quy định mới nhất về tuổi nghỉ hưu
Phần này tác giả hệ thống nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động cũng như quy định mới nhất về tuổi nghỉ hưu
Phần thứ ba. Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Phần này tác giả trình bày toàn văn Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
4. Đánh giá bạn đọc
Tác giả đã hệ thống trong cuốn sách Bộ luật lao động năm 2019 và được dịch sang Tiếng Anh và tiếng Trung Quốc, các văn bản hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động & quy định mới nhất về tuổi nghỉ hưu và Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để bạn đọc thuận tiện tra cứu, tìm hiểu và áp dụng trong thực tiễn, đặc biệt cuốn sách hữu ích đối với người làm việc với người nước ngoài, công ty nước ngoài, công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp hoạt động ổn định và phát triển đặc biệt phải lưu ý chính sách về lao động, trong đó kịp thời cập nhật quy định mới của Bộ luật lao động, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các văn bản hướng dẫn thi hành là điều vô cùng cần thiết.
Cuốn sách "Bộ Luật Lao Động (Việt - Anh - Hoa) Luật Người Việt Nam Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng Lao Động (có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/01/2021)" là tài liệu tham khảo cần thiết đối với bạn đọc quan tâm tới pháp luật lao động.
Luật Minh Khuê lưu ý bạn đọc, cuốn sách được tác giả hệ thống năm 2021, đã tổng hợp những văn bản pháp luật mới có hiệu lực thi hành tại thời điểm biên soạn. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của kinh tế, xã hội và chính sách, những quy định này có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế. Do đó, để đảm bảo tra cứu và áp dụng quy định pháp luật còn hiệu lực thi hành bạn đọc cần kiểm tra lại một lần nữa kh isuwr dụng cuốn sách.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Bộ Luật Lao Động (Việt - Anh - Hoa) Luật Người Việt Nam Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng Lao Động (có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/01/2021)".
Nếu bạn có khó khăn trong việc tra cứu hiệu lực văn bản hay quy định pháp luật trong lĩnh vực nào đó, hãy liên hệ tổng đài 1900.6162 của Luật Minh Khuê, chúng tôi sẽ hỗ trợ giải đáp chính xác và nhanh chóng nhất giúp bạn!
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số quy định tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP về xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để bạn đọc tham khảo:
Điều 9. Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần
Việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:
1. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần, người sử dụng lao động và người lao động tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và pháp luật.
2. Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong thời gian từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi hợp đồng lao động được sửa đổi, bổ sung thì được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng, trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
Trường hợp hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu có tiền lương thấp hơn so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì hai bên phải thỏa thuận lại mức lương cho đúng quy định và người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần chênh lệch giữa tiền lương đã thỏa thuận lại so với tiền lương trong hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để hoàn trả cho người lao động tương ứng với thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu.
3. Trường hợp hai bên không thống nhất sửa đổi, bổ sung các nội dung đã bị tuyên bố vô hiệu thì:
a) Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của hai bên từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản 2 Điều này;
c) Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 8 Nghị định này;
d) Thời gian làm việc của người lao động theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian người lao động làm việc cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.
4. Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 10. Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
1. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động ký lại hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật.
2. Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi hợp đồng lao động được ký lại thực hiện như sau:
a) Nếu quyền, lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng lao động không thấp hơn quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động được thực hiện theo nội dung hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu;
b) Nếu hợp đồng lao động có nội dung về quyền, nghĩa vụ, lợi ích của mỗi bên vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến phần nội dung khác của hợp đồng lao động thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định này;
c) Thời gian người lao động làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian làm việc của người lao động cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.
3. Trường hợp không ký lại hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì:
a) Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này;
c) Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 8 Nghị định này.
4. Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 11. Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm
1. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động mới theo đúng quy định của pháp luật.
2. Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi giao kết hợp đồng lao động mới thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định này.
3. Trường hợp hai bên không giao kết hợp đồng lao động mới thì:
a) Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản 2 Điều này;
c) Người sử dụng lao động trả cho người lao động một khoản tiền do hai bên thỏa thuận nhưng cứ mỗi năm làm việc ít nhất bằng một tháng lương tối thiểu vùng theo tháng áp dụng đối với địa bàn người lao động làm việc do Chính phủ quy định tại thời điểm quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Thời gian làm việc của người lao động để tính trợ cấp là thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu xác định theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định này;
d) Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc đối với các hợp đồng lao động trước hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 8 Nghị định này, nếu có.
4. Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.