1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách Các nguyên tắc hiến định trong tố tụng hình sự Việt Nam do PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn biên soạn.

PGS.TS Nguyễn Tất Viễn nguyên Ủy viên chuyên trách - Thường trực Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, hiện là Giảng viên Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Các nguyên tắc hiến định trong tố tụng hình sự Việt Nam Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn

Các nguyên tắc hiến định trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn

Nhà xuất bản Tư Pháp

 

3. Tổng quan nội dung sách

Việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị trong những năm qua đã thu được những thành tựu quan trọng, tác động tích cực đến kinh tế, xã hội. Hệ thống tư pháp Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng, hướng đến một nền tư pháp văn minh, dân chủ, hiện đại, bảo đảm công lý, bảo đảm quyền con người, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới và phát triển đất nước. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp đã ghi đậm dấu ấn trong Hiến pháp năm 2013, thể hiện qua việc phát triển, bổ sung các nguyên tắc dân chủ, có tính chất nền tảng về tổ chức và hoạt động tư pháp, trong đó có các nguyên tắc liên quan trực tiếp đến hoạt động tố tụng hình sự. Các nguyên tắc nói trên được cụ thể hóa và được làm phong phú thêm trong các đạo luật về tổ chức và hoạt động tư pháp, tạo thành một hệ thống quy định pháp luật về tố tụng công khai, minh bạch, đồng bộ, thống nhất và dễ đi vào cuộc sống, hướng tới nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Để giúp bạn đọc tìm hiểu về những nguyên tắc hiến định trong tố tụng hình sự, PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn đã biên soạn cuốn sách: “Các nguyên tắc hiến định trong tố tụng hình sự Việt Nam” 

Cuốn sách được biên soạn với các phần chính như sau:

Phần thứ nhất. Hiến pháp năm 2013 và những nguyên tắc có tính chất nền tảng của tố tụng hình sự

Phần thứ hai. Các nguyên tắc tố tụng hình sự được Hiến pháp quy định (Phần này tác giả trình bày quy định và bình giải chi tiết về các nguyên tắc tố tung hình sự) gồm:

1. Nguyên tắc suy đoán vô tội

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

(Theo Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

2. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội

Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.

(Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 - Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự)

3. Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm

Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.

(Điều 14 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

4. Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm và bí mật đời tư

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người.

Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.

Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.

(Điều 10, Điều 12 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

5. Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự

1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự.

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra.

2. Người khác bị thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra có quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại.

(Điều 31 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

6. Nguyên tắc đại diện nhân dân tham gia xét xử

Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định.

(Điều 22 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

7. Nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

(Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

8. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này quy định. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.

Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.

Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

(Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

9. Nguyên tắc người bị buộc tội phải được tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai

Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng.

Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai.

(Điều 25 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

10. Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm

1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.

Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật.

Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới theo quy định của Bộ luật này thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

(Điều 27 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

11. Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số

Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định.

(Điều 24 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

 

4. Đánh giá bạn đọc

Nguyên tắc có thể là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được thể hiện xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo. Nguyên tắc của mỗi ngành luật là những tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt trong quá trình xây dựng và áp dụng của ngành luật đó. Bộ luật tố tụng hình sự cũng vậy, để đảm thống nhất trong xây dựng và thi hành hiệu quả cần có những nguyên tắc cơ bản, then chốt, việc giải quyết vụ án phải trên cơ sở các nguyên tắc này.

Tác giả đã trình bày, luận giải chi tiết về các nguyên tắc hiến định của Bộ luật tố tụng hình sự. Cuốn sách "Các nguyên tắc hiến định trong tố tụng hình sự Việt Nam" do PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn biên soạn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc, nhất là phục vụ sinh viên đang theo đào tạo ngành luật, giảng viên trong công tác giảng dạy và nghiên cứu.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Các nguyên tắc hiến định trong tố tụng hình sự Việt Nam".