1. Giới thiệu tác giả
Sách Chỉ dẫn tra cứu, áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (TS. Nguyễn Trí Tuệ, TS. Đỗ Đức Hồng Hà và TS. Đào Thùy Dương đồng chủ biên)
Tập thể tác giả:
PGS.TS. Trương Hồ Hải
PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
PGS.TS. Hồ Sỹ Sơn
PGS.TS. Nguyễn Thị Tố Quyên
TS. Trần Thị Thu Hiền
TS. Nguyễn Thị Thu Thủy
ThS.NCS. Hoàng Nam Hải
ThS. NCS. Đỗ Thu Hiền
ThS. NCS. Nguyễn Công Long
ThS. NCS. Phạm Hữu Quốc
ThS. NCS. Trịnh Như Quỳnh
ThS. NCS. Hoàng Văn Thái
ThS. Nguyễn Hữu Chính
ThS. Lò Thị Việt Hà
ThS. Bùi Huyền Mai
CN. Nguyễn Đức Thắng
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Chỉ dẫn tra cứu, áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: TS. Nguyễn Trí Tuệ, TS. Đỗ Đức Hồng Hà và TS. Đào Thùy Dương (đồng chủ biên)
Nhà xuất bản Công an nhân dân
3. Tổng quan nội dung sách
Điều 132. Văn bản tố tụng1. Văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các văn bản tố tụng khác trong hoạt động tố tụng được lập theo mẫu thống nhất.2. Văn bản tố tụng ghi rõ:
a) Số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng;
b) Căn cứ ban hành văn bản tố tụng;
c) Nội dung của văn bản tố tụng;
d) Họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng và đóng dấu
Ví dụ đối với Điều 132 về Văn bản tố tụng thì tác giả đã chỉ dẫn và trích dẫn toàn bộ Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Mẫu văn bản tố tụng, văn bản nghiệp vụ thực hiện trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố.
Điều 136. Trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng, lệ phí
1. Chi phí quy định tại khoản 4 Điều 135 của Bộ luật này do các cơ quan, người đã trưng cầu, yêu cầu, chỉ định chi trả; trường hợp Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử người bào chữa thì do Trung tâm này chi trả.
2. Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của pháp luật. Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án. Mức án phí và căn cứ áp dụng được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án.
3. Trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nếu Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc vụ án bị đình chỉ khi có căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật này thì bị hại phải trả án phí.
4. Đối với các hoạt động tố tụng do người tham gia tố tụng yêu cầu thì việc chi trả lệ phí, chi phí theo quy định của pháp luật.
Khi trình bày đến Điều 136 về trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng, lệ phí thì tác giả đã chỉ dẫn và trích toàn văn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Điều 151. Giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì quyết định việc khởi tố vụ án theo thẩm quyền hoặc chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.
Đối với Điều 151 quy định về giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện thì tác giả đã chỉ dẫn áp dụng và trích dẫn toàn văn đến Chỉ thị số 08/CT-VKSTC ngày 28 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường thanh tra đột xuất đối với các vụ việc có dấu hiệu vi phạm trong lĩnh vực hình sự.
Điều 152. Người phạm tội tự thú, đầu thú
1. Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú, đầu thú. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.
2. Trường hợp xác định tội phạm do người tự thú, đầu thú thực hiện không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì Cơ quan điều tra tiếp nhận người tự thú, đầu thú phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp nhận, giải quyết.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú, Cơ quan điều tra có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.
"7. Phân biệt việc áp dụng tình Tiết giảm nhẹ trong trường hợp "tự thú" và trong trường hợp "đầu thú" như thế nào?
"Tự thú" là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình Điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện. "Đầu thú" là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2-6-1990 của Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp "Hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú", thì các trường hợp này đều được coi là tự thú. Tuy hướng dẫn các trường hợp này đều được coi là tự thú để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng không hướng dẫn cụ thể trong trường hợp nào áp dụng Khoản 1, trong trường hợp nào áp dụng Khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985. Để áp dụng đúng và thống nhất tình Tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong các trường hợp trên đây, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể như sau:
- Nếu người phạm tội tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội thì áp dụng tình Tiết giảm nhẹ "tự thú" quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với người phạm tội.
- Nếu có người đã biết hành vi phạm tội của người phạm tội nhưng biết không thể trốn tránh được nên người phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền trình diện thì áp dụng Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. Cũng cần chú ý là, trong trường hợp này, nếu người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoặc có những việc làm khác thuộc trường hợp được coi là tình Tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì được hưởng tình Tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999."
4. Đánh giá bạn đọc
Bằng tâm huyết và sự đầu tư thời gian, công sức, tập thể tác giả đã hệ thống nên cuốn sách này giúp bạn đọc dễ dàng, nhanh chóng, thuận tiện tìm ra, nắm bắt và áp dụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Điều này sẽ góp phần bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Cuốn sách "Sách Chỉ dẫn tra cứu, áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (TS. Nguyễn Trí Tuệ, TS. Đỗ Đức Hồng Hà và TS. Đào Thùy Dương đồng chủ biên)" không chỉ có ý nghĩa lý luận, ý nghĩa lịch sử mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và bổ ích đối với bạn đọc, đặc biệt đối với đối tượng là học viên, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm, luật sư và những người tham gia tố tụng nghiên cứu, học tập, áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!
Nếu bạn có khó khăn trong việc tra cứu hiệu lực văn bản hay quy định pháp luật trong lĩnh vực nào đó, hãy liên hệ tổng đài 1900.6162 của Luật Minh Khuê, chúng tôi sẽ hỗ trợ giải đáp chính xác và nhanh chóng nhất giúp bạn!