1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách chuyên khảo "Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại - Phát hiện vi phạm và kinh nghiệm phòng ngừa" do tác giả Nguyễn Quang Đạo Giảng viên Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh làm chủ biên cùng với sự tham gia biên soạn của giảng viên Nguyễn Thị Kim Oanh - Trường Đại học Kinh tế - Luật Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại - Phát hiện vi phạm và kinh nghiệm phòng ngừa

Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại - Phát hiện vi phạm và kinh nghiệm phòng ngừa

Tác giả: Nguyễn Quang Đạo (chủ biên)

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

3. Tổng quan nội dung sách

Qua nhiều năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành công đáng ghi nhận trong việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp; triển khai mạnh mẽ các chủ trương về hoàn thiện pháp luật và cải cách tự pháp. Với việc chủ động hội nhập hệ thống thương mại, đầu tư toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình tích cực theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường.

Trong thời gian qua, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh yếu tố tích cực như thúc đẩy sản xuất, kinh tế phát triển mạnh mẽ thì cũng có những tác động tiêu cực ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội.

Quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo vệ, do sự chi phối của quy luật cạnh tranh và mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận nên việc phát sinh tranh chấp là điều không thể tránh khỏi và cần thiết phải được một cơ quan tài phán giải quyết.

Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo về những vấn đề trên, các tác giả Nguyễn quang Đạo và Nguyễn Thị Kim Oanh đã biên soạn cuốn sách "Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại - Phát hiện vi phạm và kinh nghiệm phòng ngừa".

Trên cơ sở phân tích những vụ án kinh doanh, thương mại đã được xét xử và có phán quyết của Tòa án, đặt trong sự tham chiếu với các quy định của pháp luật, nội dung cuốn sách giúp nhận diện những sai sót trong quá trình giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại nhằm tìm ra nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc để rút kinh nghiệm và định hướng các biện pháp phòng ngừa các vi phạm.

Cuốn sách có bố cục nội dung như sau:

Thứ nhất, một số vấn đề lý luận chung về tranh chấp kinh doanh, thương mại và nguyên tắc chung trong áp dụng văn bản quy phạm pháp luật;

Thứ hai, khái quát khung pháp lý và một số kỹ năng giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án là thương lượng, hòa giải và Trọng tài thương mại;

Thứ ba, khái quát khung pháp lý khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án và xử lý các vướng mắc về quy định pháp luật tố tụng dân sự; một số vướng mắc cụ thể khi giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên cơ sở tổng hợp các giải đáp, hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; một số kỹ năng tham gia tố tụng và nghiên cứu các tranh chấp cụ thể có tính điển hình;

Thứ tư, thông qua việc bình luận một số bản án, quyết định của Tòa án rút ra bài học kinh nghiệm đối với các sai sót thường gặp dẫn đến Tòa án và Trọng tài có vi phạm trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại khiến Tòa án cấp trên phải hủy hoặc sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Phần đọc thêm là một số nội dung cần quan tâm khi các chủ thể có liên quan tham gia hoặc tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã.

4. Đánh giá bạn đọc

Trên cơ sở phân tích những vụ án kinh doanh, thương mại đã được xét xử và có phán xét của tòa án, đặt trong sự tham chiếu với các quy định của pháp luật, nội dung cuốn sách giúp nhận diện những sai sót trong quá trình giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại nhằm tìm ra nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc, từ đó rút kinh nghiệm và định hướng các biện pháp phòng ngừa hành vi. Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp thêm một số nội dung cần quan tâm khi các chủ thể có liên quan tham gia hoặc tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã. 

Đây là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho giảng viên, sinh viên ngành luật và bạn đọc có quan tâm, nghiên cứu nhằm nhận diện những vi phạm, sai sót thường gặp của các chủ thể liên quan, phục vụ cho tranh tụng và/hoặc định hướng khắc phục, phòng ngừa các sai sót, vi phạm hay xử lý vướng mắc cụ thể liên quan đến nội dung giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại - Phát hiện vi phạm và kinh nghiệm phòng ngừa".

Các vụ án kinh doanh, thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, có một số đặc trưng, đó là:

(1) Về quan hệ tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” cũng là một dạng về tranh chấp hợp đồng và về bản chất cũng là quan hệ vay mượn, đa số có lãi giống như các hợp đồng vay tài sản thông thường, nhưng nhằm mục đích phục vụ sản xuất, kinh doanh (lợi nhuận). Bên cạnh HĐTD, thường kèm theo hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản, tín chấp, bảo lãnh... của chính người vay tiền hoặc bên thứ 3. Về hình thức, HĐTD và hợp đồng bảo đảm (phổ biến là hợp đồng thế chấp, cầm cố) được thể hiện thành văn bản, nội dung hợp đồng thường áp dụng theo mẫu của TCTD. Nội dung tranh chấp bao gồm việc thanh toán vốn, lãi suất, tiền phạt và xử lý tài sản bảo đảm.

(2) Về chủ thể tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện thường là tổ chức tín dụng (bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân), các tổ chức này trong quá trình hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc cấp vốn tín dụng và bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng.

(3) Về pháp luật giải quyết tranh chấp: Do đặc điểm quan hệ tranh chấp nêu trên, nên pháp luật áp dụng giải quyết chủ yếu là Bộ luật Dân sự (BLDS), các luật chuyên ngành, như Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, pháp luật về giao dịch bảo đảm…

(4) Về phương thức, thẩm quyền giải quyết chấp: Phương thức giải quyết tranh chấp bằng tố tụng Tòa án hoặc Trọng tài. Trên thực tế, đương sự thường lựa chọn phương thức tố tụng Tòa án để giải quyết. Trong phương thức Tòa án, đa số các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của TAND cấp huyện được quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2015.

Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây một số vi phạm phổ biến trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại về "tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Hướng dẫn số 25/HD-VKSTC ngày 18/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao để bạn đọc tham khảo:

1. Xác định không đúng tư cách tố tụng của đương sự

Đối với HĐTD do chi nhánh, phòng giao dịch của các TCTD xác lập, thực hiện với khách hàng, nhiều trường hợp Tòa án vẫn xác định chi nhánh, phòng giao dịch là đương sự trong vụ án. Trường hợp khác, đối với HĐTD do doanh nghiệp tư nhân vay vốn, khi tham gia tố tụng, có Tòa án vẫn xác định tên doanh nghiệp tư nhân hoặc xác định giám đốc doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp tư nhân thuê để quản lý doanh nghiệp là đương sự.

Ví dụ, vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” do TAND tỉnh TN giải quyết tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2012/QĐST-KDTM ngày 04/05/2012 xác định nguyên đơn là Ngân hàng N - Chi nhánh thành phố TN với bị đơn là Doanh nghiệp tư nhân sửa chữa ôtô HT (do ông Đào Ngọc X là chủ doanh nghiệp). Quyết định nêu trên đã bị hủy bởi Quyết định giám đốc thẩm của TAND cấp cao, một trong những nguyên nhân bị hủy là do Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng tư cách đương sự của nguyên đơn và bị đơn.

Quá trình kiểm sát, KSV cần lưu ý: Trong trường hợp nêu trên, phải xác định pháp nhân là đương sự căn cứ khoản 6 Điều 84 BLDS năm 2015: “Pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực hiện”, và phải xác định ông/ bà... chủ doanh nghiệp tư nhân ... tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp” (tương ứng khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2020).

2. Bỏ sót vợ hoặc chồng tham gia tố tụng đối với trường hợp tài sản thế chấp đứng tên một người trong thời kỳ hôn nhân

Nhiều trường hợp Tòa án chỉ căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên một người vợ hoặc chồng thế chấp, nên chỉ đưa người này tham gia tố tụng mà không đưa người còn lại vào tham gia tố tụng dẫn đến những thiếu sót, ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, vì liên quan nguồn gốc, công sức đóng góp hình thành tài sản, những thỏa thuận về tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Quá trình giải quyết vụ án không phát hiện thiếu sót này dẫn đến nhiều vụ án bị hủy ở cấp giám đốc thẩm.

Ví dụ: Vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn Ngân hàng S với bị đơn Công ty Đ, người liên quan là bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị T... Tại Bản án phúc thẩm số 10/2015/KDTM-PT ngày 20/8/2015 của TAND cấp cao quyết định: giữ nguyên bản án sơ thẩm buộc đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 24.760.000.000đ, nếu không thanh toán được xử lý tài sản thế chấp, trong đó có nhà đất tại 477 Nguyễn Văn Cừ...

Trong vụ án này, tài sản thế chấp (TSTC) là nhà đất tại 477 Nguyễn Văn Cừ, thành phố H, có nguồn gốc năm 1995 bà C mua có hợp đồng công chứng, nhưng chưa sang tên. Ngày 16/02/2001, bà C cùng chồng là ông Nguyễn Thiện C1 bán nhà đất 477 Nguyễn Văn Cừ này cho ông Nguyễn Văn Th với giá 1.200.000.000đ. Nhưng năm 2004, bà C tự làm thủ tục kê khai và được cấp GCN QSDĐ và thế chấp Ngân hàng S cho Công ty Đ vay tiền. Vụ án có liên quan đến ông C1, nhưng Tòa án chưa thu thập chứng cứ làm rõ quan hệ hôn nhân giữa ông C1 và bà C và quyền lợi của ông C1 đối với nhà 477 Nguyễn Văn Cừ; đồng thời hành vi dùng 1 tài sản thực hiện nhiều giao dịch là có dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng Tòa án chưa làm rõ việc bà C có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không để xử lý hình sự, là không đúng.

Quá trình kiểm sát, KSV cần lưu ý: Trường hợp tài sản đứng tên một người thời kỳ hôn nhân không chỉ xem xét nội dung GCNQSDĐ, mà còn phải căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung vợ chồng, đặc biệt có trường hợp phải áp dụng Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 (quy định: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”) và những quy định có liên quan để xem xét kỹ nguồn gốc hình thành tài sản, tài sản nhận chuyển nhượng hay được tặng cho, được thừa kế, nếu đứng tên riêng thì xem xét những thỏa thuận về tài sản riêng của vợ hoặc chồng; những tài liệu, chứng cứ kèm theo; trường hợp cần thiết phải xác minh hồ sơ cấp GCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất để xem xét về nguồn gốc hình thành tài sản. Phải xem xét đưa chồng hoặc vợ (người không đứng tên trong GCNQSDĐ) vào tham gia tố tụng với tư cách đương sự để giải quyết triệt để, toàn diện vụ án.

......