1. Giới thiệu tác giả

Sách chuyên khảo "Pháp luật và đạo đức báo chí" do PGS.TS. Nguyễn Thị Trường Giang làm chủ biên.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Pháp luật và đạo đức báo chí - PGS.TS. Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên)

Sách Pháp luật và đạo đức báo chí

Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên)

Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội

3. Tổng quan nội dung sách

Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vẫn đề trong đời sống xã hội thể hiện băng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.

Báo chí không chỉ đóng vai trò là nguồn thông tin phản ánh tất cả các lĩnh vực đa dạng, phong phú của đời sống xã hội mà còn phải là “bộ lọc” thông tin, kiến giải những vấn đề mang tính bản chất từ hiện tượng xã hội để đảm bảo thực hiện tốt sứ mạng của nền báo chí cách mạng và phát triển theo hướng hiện đại. Bên cạnh đó, sự dịch chuyển phương thức tiếp cận thông tin của người đọc, người nghe từ bị động sang chủ động và công nghệ định hướng, dẫn dắt người dùng diễn ra nhanh chóng và là xu thế chủ đạo, đòi hỏi các cơ quan báo chí phải có chiến lược tổ chức, vận hành và quản lý hoạt động theo mô hình mới như đa nền tảng, tăng tính tương tác, để có thể đáp ứng nhu cầu khán giả. 

Với vai trò quan trọng như vậy, hoạt động báo chí cũng cần có khung khổ pháp lý điều chỉnh phù hợp và quy tắc đạo đức trong hành nghề báo. Và những vấn đề pháp lý cơ bản này cần được phổ biến và giáo dục trước hết đối với đội ngũ hoạt động báo chí trong tương lai.

Cuốn sách "Pháp luật và đạo đức báo chí" được biên soạn nhằm mục đích đó. Cuốn sách là học liệu bổ trợ học tập và giảng dạy môn học Pháp luật và đạo đức báo chí tại Học viện Báo chí và tuyên truyền.

Pháp luật và đạo đức báo chí là học phần bắt buộc, gồm 3 tín chỉ nằm trong khối kiến thức cơ sở ngành của chương trình đào tạo cử nhân báo chí. Đây là học phần quan trọng vì nó góp phần hình thành cho sinh viên tính kỷ luật cũng như thái độ tôn trọng pháp luật và các quy định về đạo đức nghề nghiệp.

Học phần pháp luật và Đạo đức báo chí trang bị cho người học những tri thức cơ bản, hệ thống và cập nhật về luật pháp báo chí các khái niệm, lich sử vấn đề luật pháp báo chí; Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực báo chí; Quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí; Tự do báo chí; Địa vị pháp lý của báo chí ví và nhà báo; Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước trong lĩnh vực báo chí, hoàn thiện hệ thống pháp luật báo chí; Khái niệm về đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp nhà báo; Cơ sở quy định đạo đức nghề nghiệp nhà báo; các quy ước đạo đức nghề nghiệp của báo chí; Tiêu chí đánh giá về đạo đức nghề nghiệp; Vấn đề tư dưỡng và rèn luyện đạo đức nghề nhiệp của nhà báo để người học hiểu biết thêm, tham khảo và vận dụng nhất định trong điều kiện báo chí Việt Nam đổi mới và hội nhập.

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc như sau:

Phần 1. Pháp luật về báo chí

Chương 1. Tổng quan về pháp luật và luật báo chí

1. Khái niệm

2. Vai trò của pháp luật về báo chí và vai trò của tư duy pháp lý đối với nhà báo

3. Quy định điều chỉnh hoạt động báo chí của một số nước trên thế giới

4. Một số chủ trương mới của Đảng, quy định pháp luật nhà nước về báo chí

Chương 2. Những vấn đề cơ bản của pháp luật trong hoạt động báo chí

1. Quá trình hình thành, phát triển Luật báo chí ở Việt Nam

2. Nhu cầu và yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật báo chí năm 1989 và năm 1999

3. Những nội dung chính của Luật báo chí năm 2016

4. Sự cần thiết sửa đổi, hoàn thiện Luật báo chí 2016

Phần 2. Đạo đức báo chí

Chương 3. Tổng quan về đạo đức báo chí

1. Các khái niệm cơ bản

2. Tầm quan trọng của đạo đức nghề báo

3. Quan điểm của Đảng, nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nghề báo

Chương 4. Các quy tắc đạo đức nghề báo trên thế giới và Việt Nam

4. Đánh giá bạn đọc

Hoạt động báo chí có vai trò to lớn đối với sự phát triển chung của đất nước, do vậy, vấn đề đào tạo đội ngũ nhà báo là nhiệm vụ quan trọng của quốc gia. Cuốn sách không phải là trang bị những kiến thức chuyên môn về nghiệp vụ nghề báo tuy vậy cũng là một trong những mảng kiến thức quan trọng cần trang bị đối với sinh viên ngành báo để có tư tưởng nghề nghiệp đồng thời nắm được những vấn đề pháp lý căn bản trong hoạt động nghề báo, để con đường hành nghề trong tương lai phần nào giảm bớt những rủi ro.

Cuốn sách sẽ trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản và có hệ thống về luật báo chí và đạo đức nghề nghiệp nhà báo; sinh viên sau khi học xong học phần này có thái độ tôn trọng pháp luật và các quy định về đạo đức nghề nghiệp; học phần cũng đòi hỏi sinh viên phải xây dựng được năng lực tư duy pháp lý, phân tích được sự kiện pháp lý trong hoạt động nghiệp vụ; rèn luyện cho sinh viên ý thức, thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp.

Bạn đọc đánh giá tích cực nội dung cuốn sách, cuốn sách là tài liệu hữu ích đối với những ai cần nắm những kiến thức cơ bản về pháp luật liên quan đến báo chí và truyền thông.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Pháp luật và đạo đức báo chí".

Nội dung 10 điều quy định đạo đức người làm báo Việt Nam

Điều 1: Trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; vì lợi ích của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân; góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Điều 2: Nghiêm chỉnh thực hiện Hiến pháp, Luật Báo chí, Luật bản quyền và các quy định của pháp luật. Thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích; nội quy, quy chế của cơ quan báo chí nơi công tác.

Điều 3: Hành nghề trung thực, khách quan, công tâm, không vụ lợi. Bảo vệ công lý và lẽ phải. Không làm sai lệch, xuyên tạc, che giấu sự thật, gây chia rẽ, kích động xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tình đoàn kết, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc.

Điều 4: Nêu cao tinh thần nhân văn, tôn trọng quyền con người. Không xâm phạm đời tư, làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.

Điều 5: Chuẩn mực và trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội và các phương tiện truyền thông khác.

Điều 6: Bảo vệ bí mật quốc gia, bí mật nguồn tin theo quy định của pháp luật.

Điều 7: Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp.

Điều 8: Tích cực học tập, nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, ngoại ngữ, phấn đấu vì một nền báo chí dân chủ, chuyên nghiệp và hiện đại.

Điều 9: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Điều 10: Những người làm báo Việt Nam cam kết thực hiện những quy định trên, đó là bổn phận và nguyên tắc hành nghề, là lương tâm và trách nhiệm của người làm báo.

Quy định về cấp, đổi, thu hồi thẻ nhà báo theo quy định tại Luật báo chí năm 2016:

Điều 28. Cấp, đổi, thu hồi thẻ nhà báo

1. Thẻ nhà báo cấp cho những người có đủ Điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 27 của Luật này để hoạt động báo chí.

2. Kỳ hạn cấp thẻ nhà báo là 05 năm. Thời hạn sử dụng thẻ nhà báo được ghi trên thẻ. Trong trường hợp đặc biệt, việc gia hạn thời hạn sử dụng thẻ nhà báo do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quyết định.

Hết kỳ hạn của thẻ nhà báo, Bộ Thông tin và Truyền thông xét cấp đổi thẻ nhà báo theo kỳ hạn mới.

3. Người đã được cấp thẻ nhà báo khi chuyển sang làm việc tại cơ quan, đơn vị công tác khác mà vẫn thuộc đối tượng được cấp thẻ nhà báo theo quy định tại Điều 26 của Luật này thì phải làm thủ tục xin đổi thẻ nhà báo về cơ quan mới.

4. Trường hợp thẻ nhà báo bị mất, bị hỏng, người đã được cấp thẻ nhà báo phải làm thủ tục xin cấp lại thẻ nhà báo.

Đơn đề nghị cấp lại thẻ nhà báo phải có ý kiến xác nhận của cơ quan báo chí, cơ quan công tác, công an xã, phường, thị trấn nơi mất thẻ về trường hợp mất thẻ; trường hợp thẻ bị hỏng thì phải gửi kèm theo thẻ cũ.

5. Người được cấp thẻ nhà báo phải nộp lại thẻ nhà báo trong những trường hợp sau đây:

a) Người được cấp thẻ nhà báo nhưng chuyển sang làm nhiệm vụ khác không còn là đối tượng được cấp thẻ nhà báo theo quy định tại Điều 26 của Luật này; người được cấp thẻ nhà báo đã nghỉ hưu; người đã hết thời hạn hợp đồng lao động nhưng không được ký tiếp hợp đồng lao động mới hoặc không tiếp tục làm việc tại cơ quan báo chí;

b) Người được cấp thẻ nhà báo làm việc tại cơ quan báo chí bị thu hồi giấy phép hoạt động báo chí theo quyết định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

c) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định về các nội dung quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này, người đứng đầu cơ quan công tác của người được cấp thẻ nhà báo chịu trách nhiệm thông báo bằng văn bản về các trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này, thu lại thẻ nhà báo và nộp về Bộ Thông tin và Truyền thông.

Trường hợp người được cấp thẻ nhà báo không nộp lại thẻ, cơ quan báo chí có trách nhiệm thông báo trên sản phẩm báo chí của mình, trừ trường hợp người phải nộp lại thẻ đã mất thẻ và báo cáo bằng văn bản với Bộ Thông tin và Truyền thông;

d) Người thuộc đối tượng phải nộp lại thẻ nhà báo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày nộp lại thẻ nhà báo nếu được một cơ quan báo chí tiếp nhận vào làm việc theo chế độ hợp đồng từ 01 năm trở lên thì được xét đổi thẻ nhà báo theo quy định tại Khoản 3 Điều này.

6. Người được cấp thẻ nhà báo bị thu hồi thẻ nhà báo trong các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, về hoạt động nghiệp vụ báo chí, thông tin trên báo chí hoặc sử dụng thẻ nhà báo không đúng Mục đích gây hậu quả nghiêm trọng;

b) Bị cơ quan tiến hành tố tụng quyết định khởi tố bị can. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đình chỉ Điều tra, đình chỉ vụ án đối với nhà báo đó hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật tuyên nhà báo đó không có tội hoặc được miễn trách nhiệm hình sự thì cơ quan quản lý nhà nước về báo chí có trách nhiệm trả lại thẻ nhà báo;

c) Bị cấp có thẩm quyền quyết định xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên hoặc bị khiển trách hai lần liên tục trong 02 năm theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức và pháp luật về lao động;

d) Thôi việc nhưng không nộp lại thẻ nhà báo.