Luật Minh Khuê trân trọng giới thiệu với bạn đọc nội dung cuốn sách "Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam" do TS. Trần Quang Tiệp biên soạn. Chế định đồng phạm là một chế định phức tạp, do đó, cuốn sách này sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc quan tâm pháp luật hình sự Việt Nam.
1. Giới thiệu tác giả
Sách "Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam" do TS. Trần Quang Tiệp biên soạn.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: TS. Trần Quang Tiệp
Nhà xuất bản Tư pháp
3. Tổng quan nội dung sách
Trong đồng phạm, sự tập trung sức lực, sự phối hợp, tương trợ lẫn nhau giữa những người phạm tội, cho phép chúng không chỉ thực hiện tội phạm một cách thuận lợi, mà trong nhiều trường hợp có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng hơn, dễ dàng che giấu dấu vết của tội phạm để tránh sự điều tra, khám pháp của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Về mặt tâm lý, những người đồng phạm do dựa dẫm vào nhau, nên quyết tâm phạm tội thường là cao hơn so với các trường hợp phạm tội riêng lẻ. Những người đồng phạm cũng thường là những đối tượng có nhân thân xấu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, có khả năng lôi kéo nhiều người vào hoạt động phạm tội.
Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử từ khi thi hành bộ luật hình sự năm 1985, bộ luật hình sự năm 1999, bộ luật hình sự năm 2015 cho thấy, đồng phạm là một chế định rất phức tạp, có mối quan hệ hữu cơ với nhiều chế định quan trọng khác của pháp luật hình sự như trời định tội phạm, chứ đi miễn trách nhiệm hình sự, chế định miễn hình phạt cho nên một số cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn còn lúng túng, thiếu sót trong việc giải quyết những vụ án có đồng phạm.
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc đã hỏi khoa học luật hình sự, nghiên cứu, giải quyết như khái niệm đồng phạm, người đồng phạm, các loại người đồng phạm, các hình thức đồng phạm, trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm....trong khi đó, đồng phạm đây là một trong những chế định được quy định rất khác nhau trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới và về mặt lý luận, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Vì vậy, việc tìm hiểu một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận, cũng như thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về đâu khác là rất cần thiết và bổ ích đối với cán bộ, cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng và nhân dân nói chung. Đây là vấn đề khó, có nhiều quan điểm khác nhau, nhà suất bản tư pháp sinh viên một số ý kiến của tác giả trong quyển sách để bạn đọc tham khảo và có ý kiến trao đổi.
Nội dung sách được biên soạn với cấu trúc như sau:
Sách viết về 03 vấn đề chính trọng tâm của chế định đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
CHƯƠNG I. KHÁI NIỆM ĐỒNG PHẠM VÀ CÁC LOẠI ĐỒNG PHẠM
I. Khái niệm và ý nghĩa
II. Các loại người đồng phạm
CHƯƠNG II. CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM
I. Cơ sở phân loại các hình thức đồng phạm
II. Các hình thức đồng phạm
III. Tổ chức tội phạm
CHƯƠNG III. TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA ĐỒNG PHẠM
I. Trách nhiệm hình sự trong trường hợp tội phạm hoàn thành
II. Trách nhiệm hình sự trong trường hợp tội phạm chưa hoàn thành
III. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm
Dưới đây là trích đoạn nội dung tác giả đã trình bày trong cuốn sách để bạn đọc tham khảo:
Trách nhiệm hình sự trong trường hợp đồng phạm hoàn thành
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, tức là nó mang những đặc trưng chung của trách nhiệm pháp lý, đồng thời có đặc trưng riêng. Cơ sở của trách nhiệm hình sự là sự vi phạm pháp luật hình sự được quy định tại điều hai bộ luật hình sự năm 1999, điều 24 luật hình sự năm 2015: chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Khoản hai điều hai bộ luật hình sự năm 2015 quy định: chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại điều 76 của bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bộ luật hình sự năm 1985, bộ luật hình sự năm 1999, cũng như bộ luật hình sự năm 2015 chưa có quy phạm định nghĩa của khái niệm trách nhiệm hình sự, nhưng dưới góc độ khoa học luật hình sự, trách nhiệm hình sự được hiểu là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự quy định.
Trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong cấu thành tội phạm, nhưng trong mọi hoạt hình sự năm 1985, bộ luật hình sự năm 1999 cũng như bộ luật hình sự năm 2015, ngoài một số trường hợp hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức được quy định là những tội phạm độc lập, còn hành vi của người tổ chức, xúi giục, người giúp sức lại không được quy định trong cấu thành tội phạm cụ thể khác.
Để nhận thức đúng đắn về cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, nên xây dựng một khái niệm rộng và toàn diện về cấu thành tội phạm. Khái niệm cấu thành tội phạm không chỉ bó hẹp trong nghĩa của cấu thành tội phạm cụ thể, mà phải là khái niệm chung cho tất cả các hành vi được gọi là tội phạm. Với cách đặt vấn đề này, nếu đặt cấu thành tội phạm cụ thể trong mối liên hệ với điều luật quy định về đâu phạm, thì những hành vi đồng phạm hoàn toàn thỏa mãn những dấu hiệu tổng hợp của cấu thành tội phạm cụ thể và của chế định đồng phạm.
Với quan điểm này, chúng tôi không đồng tình với quan điểm của nhà hình sự học Liên Xô (trước đây) I.M.Ma-la-khốp khi ông cho rằng: "Hành vi của những người đồng phạm không thỏa mãn cấu thành tội phạm nào và họ bị buộc tội là do căn cứ vào cấu thành tội phạm, mà hành vi của người thực hành đã thỏa mãn".
Đồng phạm là một hình thức phạm tội đặc biệt. Vì vậy, việc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm không những phải tuân thủ những nguyên tắc được áp dụng cho tất cả những trường hợp phạm tội nói chung mà còn phải tuân thủ những nguyên tắc có tính đặc thù áp dụng cho đồng phạm nói riêng. Theo luật hình sự Việt Nam, việc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm phải tuân thủ nguyên tắc có tính đặc thù sau: nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm trong đồ khác; nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập hành vi tham gia thực hiện tội phạm trong đồng phạm; nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm. Việc nghiên cứu áp dụng những nguyên tắc đặc thù này đối với trường hợp đồng phạm hoàn thành, tức là trường hợp tổng hợp hành vi phạm tội của những người đồng phạm đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm, là cơ sở cho việc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm trong trường hợp đồng phạm chưa hoàn thành.
.....
Một số quy định về đồng phạm trong Bộ luật hình sự năm 2015
Điều 17. Đồng phạm
1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
Điều 58. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm
Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.
4. Đánh giá bạn đọc
Tác giả đã chia sẻ với bạn đọc khá toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn tồn tại khi xử lý vụ án đồng phạm để bạn đọc nhận diễn vấn đề đa chiều hơn. Có những vấn đề sẽ còn tranh cãi, nhưng chính bởi đó, sẽ gợi mở cho bạn đọc lối tư duy và đưa ra quan điểm của cá nhân.
Nội dung cuốn sách "Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam" được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, có dẫn chứng minh họa, bảo đảm sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hình sự về đồng phạm.
Cuốn sách không chỉ có giá trị về mặt khoa học pháp lý mà còn có giá trị thực tiễn đối với bạn đọc.
5. Kết luận
Đúng như lời mở đầu của nhà xuất bản Tư pháp, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy đồng phạm là một chế định rất phức tạp, có mối quan hệ hữu cơ với nhiều chế định quan trọng khác của pháp luật hình sự như trời định tội phạm, chứ đi miễn trách nhiệm hình sự, chế định miễn hình phạt cho nên một số cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn còn lúng túng, thiếu sót trong việc giải quyết những vụ án có đồng phạm.
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc đòi hỏi khoa học luật hình sự, nghiên cứu, giải quyết như khái niệm đồng phạm, người đồng phạm, các loại người đồng phạm, các hình thức đồng phạm, trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm....trong khi đó, đồng phạm đây là một trong những chế định được quy định rất khác nhau trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới và về mặt lý luận, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Cuốn sách "Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam" thể hiện khá toàn diện các vấn đề pháp lý và thực tiễn tồn tại quanh chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc, đặc biệt đối với đối tượng là sinh viên, giảng viên, người làm công tác tư vấn pháp luật, người công tác trong cơ quan nhà nước trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự.
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam".