1. Giới thiệu tác giả
Cuốn "Giải thích và bình luận Luật tố tụng hành chính năm 2015" do PGS.TS. Nguyễn Cảnh Hợp làm chủ biên.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giải thích và bình luận Luật tố tụng hành chính năm 2015
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Cảnh Hợp
Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam
3. Tổng quan nội dung sách
Nhằm thể chế hóa các quan điểm, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp và cụ thể hóa những quy định mới về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, ngày 25/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thay thế cho Luật Tố tụng hành chính năm 2010.
Bên cạnh việc kế thừa và phát huy những điểm vẫn còn phù hợp với thực tiễn của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã có sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung như: nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; việc xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan trong vụ án hành chính; người đại diện của người bị kiện trong tố tụng hành chính; thẩm quyền của các cấp Tòa án; giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn… Ngoài ra,Luật Tố tụng hành chính năm 2015 còn bổ sung một số quy định về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài, thi hành án hành chính, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác. Luật Tố tụng hành chính bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016.
Thời điểm bắt đầu có hiệu lực của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Trong bối cảnh đó, việc phân tích, bình luận những vấn đề cơ bản được quy định trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015, làm rõ những điểm mới vừa được sửa đổi, bổ sung so với các quy định trước đây sẽ giúp bạn đọc hiểu và nắm bắt sâu hơn nội dung của Luật này, từ đó góp phần có hiệu quả vào việc triển khai thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2015 trong cuộc sống. Hiểu được điều đó, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Hợp với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm trong lĩnh vực pháp luật hành chính đã chủ biên cùng tập thể tác giả là giảng viên Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh biên soạn cuốn sách "Giải thích và bình luận Luật tố tụng hành chính năm 2015".
Nội dung cuốn sách được triển khai bám sát quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015, và được biên soạn với cấu trúc như sau:
1. Tổng quan về những điểm mới của Luật Tố tụng hành chính 2015.
2. Thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân.
3. Cơ quan, người tiến hành tố tụng theo Luật Tố tụng hành chính 2015.
4. Người tham gia tố tụng hành chính theo Luật Tố tụng hành chính 2015.
5. Chứng minh và chứng cứ trong vụ án hành chính.
6. Khởi kiện vụ ánh hành chính.
7. Đối thoại trong vụ án hành chính.
8. Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015.
9. Giải quyết sơ thẩm vụ án hành chính.
10. Giải quyết phúc thẩm vụ án hành chính.
11. Thủ tục giám đốc thẩm vụ án hành chính.
12. Tái thẩm vụ án hành chính.
13. Thủ tục rút gọn trong tố tụng hành chính.
14. Thi hành bản án, quyết định của tòa án về vụ án hành chính.
4. Đánh giá bạn đọc
Cuốn sách trình bày bám sát theo nội dung của Luật tố tụng hành chính năm 2015, vừa giải thích vừa đưa ra bình luận có so sánh với các điều của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, cuốn sách sẽ giúp bạn đọc dễ dàng rút ra những thông tin bổ ích trong nghiên cứu cũng như thuận tiện trong áp dụng khi cần thiết.
Cuốn sách là tài liệu tham khảo không chỉ có giá trị về mặt khoa học pháp lý mà còn có giá trị về mặt thực tiễn đối với bạn đọc.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giải thích và bình luận Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số nội dung mới trong Luật tố tụng hành chính năm 2015 để bạn đọc tham khảo:
Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016. Luật gồm 23 chương, 372 điều; trong đó sửa đổi, bổ sung 198 điều, giữ nguyên 63 điều của Luật Tố tụng hành chính 2010 và bổ sung 111 điều mới. Dưới đây là một số điểm mới của Luật Tố tụng hành chính 2015:
Về quy định mới trong tố tụng hành chính: Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định từ ngày 1/7/2016 trở đi, những yêu cầu khởi kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND và chủ tịch UBND cấp huyện do tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
+ Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính có thể đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra và phải có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ. Trường hợp cần thiết, tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác. Trường hợp bên có yêu cầu bồi thường thiệt hại mà chưa có điều kiện để chứng minh thì tòa án có thể tách việc yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải quyết sau bằng một vụ án dân sự khác theo pháp luật về tố tụng dân sự.
+ Thời hiệu khởi kiện là vụ án hành chính 1 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính (kể cả quyết định kỷ luật buộc thôi việc); 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện là 1 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai; 1 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn nêu trên, thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện. Các quy định của Bộ luật Dân sự về cách xác định thời hạn, thời hiệu được áp dụng trong tố tụng hành chính.
- Đối với việc xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan trong vụ án hành chính: Để tòa án thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật, Luật Tố tụng hành chính 2015 đã bổ sung quy định trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì tòa án xử lý như sau:
+ Nếu chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì chánh án tòa án đang giải quyết vụ án đó kiến nghị theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền thực hiện việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
+ Nếu đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc vụ án đang được xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm thì hội đồng xét xử đề nghị chánh án tòa án đang giải quyết vụ án đó thực hiện việc kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền thực hiện việc kiến nghị.
+ Tại phiên tòa, nếu hội đồng xét xử phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật thì hội đồng xét xử có văn bản báo cáo chánh án tòa án để thực hiện quyền kiến nghị. Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa để chờ ý kiến của chánh án tòa án hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi có văn bản kiến nghị của chánh án tòa án có thẩm quyền.
Luật Tố tụng hành chính 2015 cũng bổ sung nhiều quy định về việc xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có liên quan trong vụ án hành chính, như: quy định về trình tự, thẩm quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật và trách nhiệm thực hiện kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật…
Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn: Luật Tố tụng hành chính 2015 đã bổ sung quy định mới về thủ tục rút gọn giải quyết vụ án hành chính, theo đó vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện: vụ án có tình tiết đơn giản, tài liệu, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, bảo đảm đủ căn cứ giải quyết vụ án và tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; không có đương sự cư trú ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài có thỏa thuận với đương sự ở Việt Nam đề nghị tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn. Việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn do một thẩm phán thực hiện.
Ngoài quy định về điều kiện, thành phần giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, Luật cũng quy định cụ thể về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn, quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn; khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn; về phiên tòa theo thủ tục rút gọn; việc chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường trong quá trình tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn; về phiên tòa theo thủ tục rút gọn và hiệu lực của bản án, quyết định của tòa án theo thủ tục rút gọn; quy định về việc giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn tại tòa án cấp phúc thẩm.
Đây là những quy định mới được bổ sung để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 2013, bảo đảm giải quyết nhanh gọn, kịp thời những vụ án đơn giản, chứng cứ đã rõ ràng, tránh việc giải quyết vụ án bị kéo dài, gây tốn kém thời gian, công sức, chi phí của đương sự và của tòa án trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, tòa án có thể quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường nếu thấy phát sinh các tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất và cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định; cần phải định giá tài sản nếu các đương sự không thống nhất về giá; cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phát sinh yêu cầu độc lập; phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp. Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. .................