1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Hệ Thống văn bản quy phạm pháp luật, trích văn quy phạm pháp luật về hôn nhân gia đình" do ThS. Lê Thị Mận, giảng viên Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh biên soạn.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Hệ Thống văn bản quy phạm pháp luật, trích văn quy phạm pháp luật về hôn nhân gia đình
Tác giả: ThS. Lê Thị Mận
Nhà xuất bản Hồng Đức
3. Tổng quan nội dung sách
Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật hôn nhân gia đình, đặc biệt để hỗ trợ cho việc học và nghiên cứu môn Luật Hôn nhân và gia đình, cuốn sách Hệ Thống văn bản quy phạm pháp luật, trích văn quy phạm pháp luật về hôn nhân gia đình đã được ThS. Lê Thị Mận - với tư cách là giảng viên giảng dạy môn Luật Hôn nhân và gia đình tuyển chọn, biên soạn và giới thiệu.
Thực chất tài liệu này là sự chọn lọc và bố cục có hệ thống và logic các văn bản, phần trích văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có hiệu lực trong phạm vi cả nước. Các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 để thực thi pháp luật hôn nhân gia đình vì vậy không được giới thiệu trong cuốn sách này.
Sách được cấu trúc ba phần:
Phần thứ nhất: Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đây là phần sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật chủ đạo điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình hiện hành. Tham chiếu Điều 133 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về trách nhiệm của Chính phủ và cơ quan hữu quan trong việc hướng dẫn chi tiết và hướng dẫn thi hành các Điều, Khoản được giao trong Luật nên ngay sau Luật Hôn nhân và gia đình, tác giả sắp xếp các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này để người đọc tiện tra cứu.
Phần thứ hai: Văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch
Tiếp cận theo phương diện pháp luật nội dung và pháp luật hình thức, có thể thấy pháp luật hôn nhân gia đình xác định quyền, nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình (pháp luật nội dung) còn pháp luật hộ tịch quy định trình tự cho việc thực thi các quyền, nghĩa vụ đó (pháp luật hình thức). Văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo cho cá nhân xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình thông qua thủ tục hành chính. Từ những điểm giao thoa, gắn kết giữa pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật về hộ tịch khẳng định: Nghiên cứu pháp luật hôn nhân và gia đình phải song hành tìm hiểu pháp luật về hộ tịch. Do vậy, Luật Nuôi con nuôi, Luật Hộ tịch và Nghị định, Thông tư triển khai thi hành Luật Hộ tịch sẽ được tác giả hệ thống giới thiệu trong phần này.
Phần thứ ba: Trích văn bản quy phạm pháp luật – cơ sở xác lập và đảm bảo quyền và nghĩa vụ hôn nhân gia đình
Căn cứ nguyên tắc, phạm vi tác động điều chỉnh và hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, một số quy phạm trong các văn bản quy phạm pháp luật với tính chất là nguồn - cơ sở để xây dựng và đảm bảo quyền và nghĩa vụ hôn nhân gia đình (thường được viện dẫn) sẽ được tác giả chọn trích. Tùy thuộc tính chất và hình thức của quy phạm pháp luật, phần trích các văn bản được phân thành ba nhóm:
- Nhóm văn bản quy phạm pháp luật trích là cơ sở xác lập và thực hiện quyền - nghĩa vụ hôn nhân gia đình;
- Nhóm văn bản quy phạm pháp luật trích là cơ sở xử lý về dân sự, hình sự và hành chính nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ hôn nhân gia đình;
- Nhóm văn bản quy phạm pháp luật trích khác có liên quan.
Để người đọc tiếp cận một cách tổng quan sự phát triển của cơ chế pháp lý về hôn nhân gia đình, một số văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực nhưng mang tính lý luận cơ bản cũng được hệ thống (thuộc nhóm văn bản trích khác có liên quan, có chú thích của tác giả). Nhằm tạo thuận lợi trong việc tra cứu, trích các văn bản quy phạm pháp luật phần này được sắp xếp theo thời gian ban hành.
4. Đánh giá bạn đọc
Tác giả đã hệ thống các văn bản quy phạm, trích văn bản quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình một cách khoa học và theo từng nhóm vấn đề rất thuận tiện cho người học nói riêng, bạn đọc nói chung tra cứu, tìm hiểu.
Bên cạnh Giáo trình, cuốn sách Hệ Thống văn bản quy phạm pháp luật, trích văn quy phạm pháp luật về hôn nhân gia đình là học liệu hỗ trợ rất tốt cho việc giảng dạy và học tập môn Pháp luật Hôn nhân và gia đình của sinh viên ngành luật.
Cuốn sách được tác giả hệ thống năm 2018, tập hợp những văn bản quy phạm đang có hiệu lực thi hành, nhưng theo thời gian, cùng sự thay đổi và yêu cầu từ đời sống xã hội, có thể có những chính sách, quy định đã được sửa đổi, thay thế để phù hợp hơn. Do đó, khi sử dụng cuốn sách bạn đọc lưu ý cần tra cứu lại một lần nữa hiệu lực của văn bản để đảm bảo đang lựa chọn và áp dụng đúng quy định còn giá trị thi hành.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Hệ Thống văn bản quy phạm pháp luật, trích văn quy phạm pháp luật về hôn nhân gia đình".
Nếu bạn có khó khăn trong việc tra cứu hiệu lực văn bản hay quy định pháp luật trong lĩnh vực nào đó, hãy liên hệ tổng đài 1900.6162 của Luật Minh Khuê, chúng tôi sẽ hỗ trợ giải đáp chính xác và nhanh chóng nhất giúp bạn!
Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây hướng dẫn về căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BTP để bạn đọc tham khảo:
Điều 2. Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật
Khi giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình để xem xét, quyết định xử lý việc kết hôn trái pháp luật và lưu ý một số điểm như sau:
1. “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam đã đủ hai mươi tuổi, nữ đã đủ mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh.
Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau:
a) Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;
b) Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh.
Ví dụ: Chị B sinh ngày 10-01-1997, đến ngày 08-01-2015 chị B đăng ký kết hôn với anh A tại Ủy ban nhân dân xã X. Tại thời điểm đăng ký kết hôn chị B chưa đủ 18 tuổi (ngày chị B đủ 18 tuổi là ngày 10-01-2015), như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì chị B đã đủ tuổi kết hôn, tuy nhiên vì ngày chị B đăng ký kết hôn Luật hôn nhân và gia đình đã có hiệu lực (ngày 01-01-2015) nên chị B đã vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.
2. “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do theo ý chí của họ.
3. “Lừa dối kết hôn” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn.
4. “Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.
5. Việc xác định thời điểm “cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn” quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình phải căn cứ vào các quy định của pháp luật. Tòa án yêu cầu đương sự xác định và cung cấp các tài liệu, chứng cứ để xác định thời điểm cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.
Ví dụ 1: Trường hợp kết hôn khi một bên bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, nếu sau khi bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn mà bên bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn đã biết nhưng đã thông cảm, tiếp tục chung sống hòa thuận thì thời điểm đủ điều kiện kết hôn là thời điểm đương sự biết mình bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn nhưng vẫn tiếp tục sống chung như vợ chồng.
Ví dụ 2: Ngày 15-01-2005, chị B kết hôn với anh A. Đến ngày 15-01-2010, chị B lại kết hôn với anh C. Ngày 25-01-2012, Tòa án có quyết định tuyên bố anh A chết. Ngày 12-6-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị B và anh C. Tại phiên họp, chị B và anh C đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì chị B và anh C phải cung cấp Quyết định của Tòa án tuyên bố anh A đã chết để xác định thời điểm chị B và anh C đủ điều kiện kết hôn. Trong trường hợp này, thời điểm chị B và anh C có đủ điều kiện kết hôn là thời điểm mà Tòa án xác định anh A chết được ghi trong quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.