1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Hướng dẫn các sử dụng kháng sinh và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn" do tác giả Quý Lâm hệ thống.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Hướng dẫn các sử dụng kháng sinh và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn

Hướng dẫn các sử dụng kháng sinh và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn

Tác giả: Quý Lâm

Nhà xuất bản Hồng Đức

3. Tổng quan nội dung sách

Sự ra đời của kháng sinh đã đánh dấu một kỷ nguyên mới của y học về điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, đã cứu sống hàng triệu triệu người khỏi các bệnh nhiễm khuẩn nguy hiểm,…Tuy nhiên do việc sử dụng rộng rãi, kéo dài và lạm dụng, chưa hợp lý, an toàn nên tình trạng kháng kháng sinh của các vi sinh vật ngày một gia tăng. Mức độ kháng thuốc ngày càng trầm trọng làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao, thời gian điều trị kéo dài, chi phí điều trị tăng cao, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh và cộng đồng.

Với mục điểm quản lý sử dụng kháng sinh hiệu quả trong công tác khám chữa bệnh, Bộ y tế đã hành nhiều văn bản hướng dẫn về việc sử dụng kháng sinh và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Nhằm cập nhật tới bạn đọc những quy định mới được ban hành, nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản cuốn sách: "Hướng dẫn các sử dụng kháng sinh và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn"

Cuốn sách được hệ thống gồm những nội dung sau:

- Quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú (theo Thông tư số 05/2016/TT-BYT ngày 29/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế). Quy định về kê đơn thuốc y học cổ truyền, kê đơn thuốc y học cổ truyền kết hợp với thuốc tân dược trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (theo Thông tư số 01/2016/TT-BYT ngày 05/01/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế} và Danh mục thuốc không kê đơn (theo Thông tư số 23/2014/TT-BYT ngày 30/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế).

- Hướng dẫn sử dụng kháng sinh, điều trị các bệnh nhiễm khuẩn do các chuyên gia đầu ngành về y và được biên soạn và đã được Bộ trường Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 708/QĐ-BYT ngày 2/3/2015.

- Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện (theo Quyết định số 772/QĐ-BYT ngày 14/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế).

- Hướng dẫn sơ cấp cứu ban đầu theo tài liệu của Bộ Y tế.

4. Đánh giá bạn đọc

Các tác giả đã hệ thống trong cuốn sách nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn và quản lý sử dụng thuốc trong khám, chữa bệnh tại bệnh viện và các nhà thuốc thuận tiện cho bạn đọc tra cứu, tìm hiểu và triển khai thực hiện hiệu quả trên thực tế.

Cuốn sách được xuất bản năm 2019., cũng đã hệ thống những văn bản pháp luật mới nhất có hiệu lực thi hành tại thời điểm đó, tuy nhiên, theo thời gian, cùng với sự thay đổi của đời sống kinh tế xã hội, những chính sách trong quản lý, sử dụng kháng sinh, điều trị các bệnh nhiễm khuẩn cũng có thể sẽ được sửa đổi. Vì vậy, để đảm bảo lựa chọn và áp dụng đúng quy định còn hiệu lực thi hành, khi sử dụng cuốn sách để tra cứu, bạn đọc cần kiểm tra lại hiệu lực của văn bản một lần nữa.

Với ưu điểm hệ thống cùng một lúc nhiều văn bản pháp luật thuận tiện cho bạn đọc tra cứu, áp dụng song khi các quy định này bị thay thế, sửa đổi thì giá trị tham khảo của cuốn sách cũng sẽ giảm đi. Trong cuốn sách này hầu hết các văn bản được viện dẫn cho đến nay (2022) đã được thay thế.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Sổ tay công tác khám bệnh- chữa bệnh- kê đơn thuốc (Áp dụng trong các đơn vị khánh bệnh, chữa bệnh và nhà thuốc)".

Nếu bạn có khó khăn trong việc tra cứu hiệu lực văn bản hay quy định pháp luật trong lĩnh vực nào đó, hãy liên hệ tổng đài 1900.6162 của Luật Minh Khuê, chúng tôi sẽ hỗ trợ giải đáp chính xác và nhanh chóng nhất giúp bạn!

Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây một số nhóm kháng sinh và tác dụng theo quy định tại Quyết định 708/QĐ-BYT ngày 02/3/2015 để bạn đọc tham khảo:

Các nhóm kháng sinh được sắp xếp theo cấu trúc hóa học. Theo cách phân loại này, kháng sinh được chia thành các nhóm như sau (Bảng I.1):

Bảng I.1. Phân loại kháng sinh theo cấu trúc hóa học

TT

Tên nhóm

Phân nhóm

1

Beta-lactam

Các penicilin

Các cephalosporin

Các beta-lactam khác Carbapenem Monobactam

Các chất ức chế beta-lactamase

2

Aminoglycosid

3

Macrolid

4

Lincosamid

5

Phenicol

6

Tetracyclin

Thế hệ 1

Thế hệ 2

7

Peptid

Glycopeptid

Polypetid

Lipopeptid

8

Quinolon

Thế hệ 1

Các fluoroquinolon: Thế hệ 2, 3, 4

9

Các nhóm kháng sinh khác

Sulfonamid

Oxazolidinon

5-nitroimidazol

1. KHÁNG SINH NHÓM BETA-LACTAM

Nhóm beta-lactam là một họ kháng sinh rất lớn, bao gồm các kháng sinh có cấu trúc hóa học chứa vòng beta-lactam. Khi vòng này liên kết với một cấu trúc vòng khác sẽ hình thành các phân nhóm lớn tiếp theo: nhóm penicilin, nhóm cephalosporin và các beta-lactam khác.

1.1. Phân nhóm penicilin

- Các thuốc kháng sinh nhóm penicilin đều là dẫn xuất của acid 6- aminopenicilanic (viết tắt là A6AP). Trong các kháng sinh nhóm penicilin, chỉ có penicilin G là kháng sinh tự nhiên, được chiết xuất từ môi trường nuôi cấy Penicilium. Các kháng sinh còn lại đều là các chất bán tổng hợp.

- Sự thay đổi nhóm thế trong cấu trúc của penicilin bán tổng hợp dẫn đến sự thay đổi tính bền vững với các enzym penicilinase và beta-lactamase; thay đổi phổ kháng khuẩn cũng như hoạt tính kháng sinh trên các chủng vi khuẩn gây bệnh.

- Dựa vào phổ kháng khuẩn, có thể tiếp tục phân loại các kháng sinh nhóm Penicilin thành các phân nhóm với phổ kháng khuẩn tương ứng như sau:

+ Các penicilin phổ kháng khuẩn hẹp

+ Các penicilin phổ kháng khuẩn hẹp đồng thời có tác dụng trên tụ cầu

+ Các penicilin phổ kháng khuẩn trung bình

+ Các penicilin phổ kháng khuẩn rộng đồng thời có tác dụng trên trực khuẩn mủ xanh.

- Đại diện của mỗi phân nhóm và phổ kháng khuẩn tương ứng được trình bày trong Bảng I.2.

1.2. Phân nhóm cephalosporin

- Cấu trúc hóa học của các kháng sinh nhóm cephalosporin đều là dẫn xuất của acid 7-aminocephalosporanic (viết tắt là A7AC). Các cephalosporin khác nhau được hình thành bằng phương pháp bán tổng hợp. Sự thay đổi các nhóm thế sẽ dẫn đến thay đổi đặc tính và tác dụng sinh học của thuốc.

- Các cephalosporin bán tổng hợp tiếp tục được chia thành 4 thế hệ. Sự phân chia này không còn căn cứ trên cấu trúc hóa học mà chủ yếu dựa vào phổ kháng khuẩn của kháng sinh. Xếp theo thứ tự từ thế hệ 1 đến thế hệ 4, hoạt tính trên vi khuẩn Gram-dương giảm dần và hoạt tính trên vi khuẩn Gram-âm tăng dần. Phổ kháng khuẩn của một số cephalosporin trong từng thế hệ được trình bày trong Bảng I.3. Lưu ý thêm là tất cả các cephalosporin hầu như không có tác dụng trên enterococci, Listeria monocytogenes, Legionella spp., S. aureus kháng methicilin, Xanthomonas maltophilia, và Acinetobacter spp.

Bảng I.2. Phân nhóm kháng sinh Penicilin và phổ kháng khuẩn

Phân nhóm

Tên thuốc

Phổ kháng khuẩn

Các penicilin phổ kháng khuẩn hẹp

Penicilin G

Penicilin V

Cầu khuẩn Gram-dương (trừ cầu khuẩn tiết penicilinase, do đó không có tác dụng trên phần lớn các chủng S. aureus).

Các penicilin phổ kháng khuẩn hẹp đồng thời có tác dụng trên tụ cầu

Methicilin

Oxacilin

Cloxacilin

Dicloxacilin

Nafcilin

Hoạt tính kháng khuẩn kém hơn trên các vi khuẩn nhạy cảm với penicilin G, nhưng do có khả năng kháng penicilinase nên có tác dụng trên các chủng tiết penicilinase như S. aureus và S. epidermidis chưa kháng methicilin.

Các penicilin phổ kháng khuẩn trung bình

Ampicilin

Amoxicilin

Phổ kháng khuẩn mở rộng hơn so với penicilin G trên các vi khuẩn Gram-âm như Haemophilus influenzae, E. coli, và Proteus mirabilis. Các thuốc này không bền vững với enzym beta- lactamase nên thường được phối hợp với các chất ức chế beta-lactamase như acid clavulanic hay sulbactam.

Các penicilin phổ kháng khuẩn rộng đồng thời có tác dụng trên trực khuẩn mủ xanh

Carbenicilin

Ticarcilin

Phổ kháng khuẩn mở rộng hơn trên các chủng vi khuẩn Gram-âm như Pseudomonas, Enterobacter, Proteus spp. Có hoạt tính mạnh hơn so với ampicilin trên cầu khuẩn Gram- dương và Listeria monocytogenes, kém hơn piperacilin trên Pseudomonas.

Mezlocilin

Piperacilin

Có tác dụng mạnh trên các chủng Pseudomonas, Klebsiella, và một số chủng vi khuẩn Gram-âm khác. Piperacilin vẫn giữ được hoạt tính tương tự ampicilin trên tụ cầu Gram-dương và Listeria monocytogenes.

Bảng I.3. Các thế hệ Cephalosporin và phổ kháng khuẩn

Thế hệ

Tên thuốc

Phổ kháng khuẩn

Cephalosporin thế hệ 1

Cefazolin

Cephalexin

Cefadroxil

Có hoạt tính mạnh trên các chủng vi khuẩn Gram-dương nhưng hoạt tính tương đối yếu trên các chủng vi khuẩn Gram-âm. Phần lớn cầu khuẩn Gram-dương nhạy cảm với cephalosporin thế hệ 1 (trừ enterococci, S. epidermidis và S. aureus kháng methicilin). Hầu hết các vi khuẩn kỵ khí trong khoang miệng nhạy cảm, nhưng với B. fragilis thuốc không có hiệu quả. Hoạt tính tốt trên các chủng Moraxella catarrhalis, E. coli, K. pneumoniae, và P. mirabilis.

Cephalosporin thế hệ 2

Cefoxitin

Cefaclor

Cefprozil

Cefuroxim

Cefotetan

Ceforanid

Các cephalosporin thế hệ 2 có hoạt tính mạnh hơn trên vi khuẩn Gram-âm so với thế hệ 1 (nhưng yếu hơn nhiều so với thế hệ 3). Một số thuốc như cefoxitin, cefotetan cũng có hoạt tính trên B. fragilis

Cephalosporin thế hệ 3

Cefotaxim

Cefpodoxim

Ceftibuten

Cefdinir

Cefditoren

Ceftizoxim

Ceftriaxon

Cefoperazon

Ceftazidim

Các cephalosporin thế hệ 3 nói chung có hoạt tính kém hơn thế hệ 1 trên cầu khuẩn Gram-dương, nhưng có hoạt tính mạnh trên vi khuẩn họ Enterobacteriaceae (mặc dù hiện nay các chủng vi khuẩn thuộc họ này đang gia tăng kháng thuốc mạnh mẽ do khả năng tiết beta-lactamase). Một số các thuốc như ceftazidim và cefoperazon có hoạt tính trên P. aeruginosa nhưng lại kém các thuốc khác trong cùng thế hệ 3 trên các cầu khuẩn Gram-dương.

Cephalosporin thế hệ 4

Cefepim

Cephalosporin thế hệ 4 có phổ tác dụng rộng hơn so với thế hệ 3 và bền vững hơn với các beta-lactamase (nhưng không bền với Klebsiella pneumoniae carbapenemase (KPC) nhóm A). Thuốc có hoạt tính trên cả các chủng Gram-dương, Gram-âm (bao gồm Enterobacteriaceae và Pseudomonas)

1.3. Các beta-lactam khác

a) Nhóm carbapenem

Nghiên cứu biến đổi cấu trúc hóa học của penicilin và cephalosporin đã tạo thành một nhóm kháng sinh beta-lactam mới, có phổ kháng khuẩn rộng, đặc biệt có hoạt tính rất mạnh trên vi khuẩn Gram-âm - đó là kháng sinh nhóm carbapenem. Tên thuốc và phổ tác dụng của một số kháng sinh trong nhóm này được trình bày trong Bảng I.4.

Bảng I.4. Kháng sinh carbapenem và phổ tác dụng

Tên kháng sinh

Phổ tác dụng

Imipenem

Thuốc có phổ tác dụng rất rộng trên cả vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí. Các chủng vi khuẩn nhạy cảm bao gồm streptococci (kể cả phế cầu kháng penicilin), enterococci (nhưng không bao gồm E. faecium và các chủng kháng penicilin không do sinh enzym beta-lactamase), Listeria. Một vài chủng tụ cầu kháng methicilin có thể nhạy cảm với thuốc, nhưng phần lớn các chủng này đã kháng. Hoạt tính rất mạnh trên Enterobacteriaceae (trừ các chủng tiết carbapenemase KPC). Tác dụng được trên phần lớn các chủng Pseudomonas và Acinetobacter. Tác động trên nhiều chủng kỵ khí, bao gồm cả B. fragilis. Không bền vững đối với men DHP-1 tại thận nên cần phối hợp cilastatin.

Meropenem

Phổ tác dụng tương tự imipenem, có tác dụng trên một số chủng Gram (-) như P. aeruginosa, kể cả đã kháng imipenem.

Doripenem

Phổ tác dụng tương tự imipenem và meropenem.

Tác dụng trên vi khuẩn Gram-dương tương tự imipenem, tốt hơn so với meropenem và ertapenem.

Ertapenem

Phổ tác dụng tương tự các carbapenem nhưng tác dụng trên các chủng Pseudomonas và Acinetobacter yếu hơn so với các thuốc cùng nhóm.

b) Nhóm monobactam

- Kháng sinh monobatam là kháng sinh mà công thức phân tử có chứa beta-lactam đơn vòng. Chất điển hình của nhóm này là aztreonam.

- Phổ kháng khuẩn của aztreonam khá khác biệt với các kháng sinh họ beta-lactam và có vẻ gần hơn với phổ của kháng sinh nhóm aminoglycosid. Thuốc chỉ có tác dụng trên vi khuẩn Gram-âm, không có tác dụng trên vi khuẩn Gram-dương và vi khuẩn kỵ khí. Tuy nhiên, hoạt tính rất mạnh trên Enterobacteriaceae và có tác dụng đối với P. aeruginosa.

c) Các chất ức chế beta-lactamase

Các chất này cũng có cấu trúc beta-lactam, nhưng không có hoạt tính kháng khuẩn, mà chỉ có vai trò ức chế enzym beta-lactamase do vi khuẩn tiết ra. Các chất hiện hay được sử dụng trên lâm sàng là acid clavulanic, sulbactam và tazobactam.

1.4. Tác dụng không mong muốn (ADR) của các kháng sinh nhóm beta- lactam:

- Dị ứng với các biểu hiện ngoài da như mề đay, ban đỏ, mẩn ngứa, phù Quincke gặp với tỷ lệ cao. Trong các loại dị ứng, sốc phản vệ là ADR nghiêm trọng nhất có thể dẫn đến tử vong.

- Tai biến thần kinh với biểu hiện kích thích, khó ngủ. Bệnh não cấp là ADR thần kinh trầm trọng (rối loạn tâm thần, nói sảng, co giật, hôn mê), tuy nhiên tai biến này thường chỉ gặp ở liều rất cao hoặc ở người bệnh suy thận do ứ trệ thuốc gây quá liều.

- Các ADR khác có thể gặp là gây chảy máu do tác dụng chống kết tập tiểu cầu của một số cephalosporin; rối loạn tiêu hóa do loạn khuẩn ruột với loại phổ rộng.

...............