1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Kỹ năng giải quyết vụ án hành chính trong lĩnh vực Quản lý đất đai và thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân" do ThS. Nguyễn Hải Phượng biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Kỹ năng giải quyết vụ án hành chính trong lĩnh vực Quản lý đất đai và thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân

Kỹ năng giải quyết vụ án hành chính trong lĩnh vực Quản lý đất đai và thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân

Tác giả: ThS. Nguyễn Hải Phượng

Nhà xuất bản Lao Động

3. Tổng quan nội dung sách

Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật. Luật đất đai quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, Nhà nước quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quyết định mục đích sử dụng đất’ quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất; quyết định giá đất; quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất; quyết định chính sách tài chính về đất đai; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Với vai trò là chủ thể được Nhà nước trao quyền sử dụng đất; người sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, trong đó có quyền “khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai”.
Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật và kỹ năng giải quyết các vụ án hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. Nhà xuất bản Lao động phát hành cuốn sách: “Kỹ năng giải quyết vụ án hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và thực tiễn xét xử của Tòa án Nhân dân” do ThS. Nguyễn Hải Phượng hệ thống và biên soạn.
Cuốn sách được biện soạn với hai phần nội dung chính:
Phần thứ nhất. Kỹ năng giải quyết vụ án hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai
Phần này tác giả biên soạn các nội dung gồm: Các vấn đề chung về khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và Các kỹ năng xem xét, đánh giá tính hợp pháp của một số quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai (Phân tích kỹ năng giải quyết các vụ án hành chính trong lĩnh vực quản lú đất đai, tập trung vào các loại việc phổ biến mà Tòa án phải giải quyết).
Phần thứ hai. Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến khiếu kiện hành chính về quản lý đất đai
Giới thiệu các văn bản quy phạm pháp luật; các án lệ, giải đáp, công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Tòa án Nhân dân tối cao, viện kiểm sát Nhân dân tối cao và các quyết định của giám đốc thẩm, tái thẩm của hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao về khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.

4. Đánh giá bạn đọc

Với hai phần nội dung chính, cuốn sách đã cung cấp cho bạn đọc những kiến thức chung về kỹ năng giải quyết vụ án hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thuận tiện để bạn đọc tra cứu, tìm hiểu và áp dụng.

Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho người làm công tác giải quyết tố tụng hành chính và người hành nghề luật đồng thời cũng là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc là những ai quan tâm tới nội dung này.

5. Kết luận

Cuốn sách mới được ấn hành, cập nhật theo những quy định mới và còn hiệu lực thi hành, do đó là tài liệu có giá trị thực tiễn đối với bạn đọc.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Kỹ năng giải quyết vụ án hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và thực tiễn xét xử của Tòa án Nhân dân".

Câu hỏi: Cần lưu ý gì khi xem xét, đánh giá về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nội dung đối tượng khởi kiện là quyết định thu hồi đất?

Theo Luật Đất đai năm 2003 thì trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất quy định như sau:

Thứ nhất, đối với các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế

- Trường hợp không thực hiện theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất thì trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 69/2009/NĐ-CP;

- Trường hợp theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất thì thực hiện thu hồi đất giao cho Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện giải phóng mặt bằng và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào văn bản công nhận kết quả đấu giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và giấy xác nhận đã nộp đủ tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất của người trúng đấu giá, cơ quan tài nguyên và môi trường làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền không phải ra quyết định giao đất, cho thuê đất.

Thứ hai, đối với dự án đầu tư sử dụng đất không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất

Đối với dự án đầu tư sử dụng đất không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì không phải làm thủ tục thu hồi đất; sau khi được giới thiệu địa điểm, chủ đầu tư và người sử dụng đất thỏa thuận theo hình thức chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp thay đổi mục đích sử dụng đất.

Quy định về thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013 như sau:

Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất quy định như sau:

Căn cứ theo quy định của pháp luật để cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất được quy định tại các Điều 61, 62, 63, 64,65 Luật Đất đai năm 2013.

Về trình tự thủ tục thu hồi đất căn cứ quy định tại Điều 67, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất phải thực hiện các trình tự, thủ tục cụ thể như sau:

Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn nêu trên thì UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất. UBND cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc. Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc. Trường hợp người có đất thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo quy định tại của pháp luật.

Về thẩm quyền thu hồi đất: Điều 66 Luật Đất đai năm 2013 quy định: UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn. UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng thuộc thẩm quyền thu hồi đất của UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện thì UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất. Đây là quy định mới, phù hợp với thực tế hơn so với Luật Đất đai năm 2003.

Ví dụ: Trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật quy định chi tiết tại Điều 66 Nghị định 43/NĐ-CP như sau:

1. Trường hợp vi phạm pháp luật mà phải thu hồi đất, khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm lập biên bản về vi phạm hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất.

Trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai không thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì biên bản xác định hành vi vi phạm phải có đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã làm chứng để làm căn cứ quyết định thu hồi đất và được lập theo quy định sau đây:

- Cơ quan tài nguyên và môi trường tổ chức kiểm tra để xác định hành vi vi phạm quy định tại các điểm c, d và g khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai; tổ chức thanh tra để xác định hành vi vi phạm quy định tại Điểm h và Điểm i Khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai;

- Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản, người được giao nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra có trách nhiệm gửi biên bản cho cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất để chỉ đạo thu hồi đất.

2. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra, xác minh thực địa khi cần thiết, trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định thu hồi đất.

3. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm sau:

- Thông báo việc thu hồi đất cho người sử dụng đất và đăng trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

- Chỉ đạo xử lý phần giá trị còn lại của giá trị đã đầu tư vào đất hoặc tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định của pháp luật;

- Tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất theo quy định tại Khoản 3 Điều 65 của Nghị định này;

- Bố trí kinh phí thực hiện cưỡng chế thu hồi đất.

4. Cơ quan tài nguyên và môi trường chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính; thu hồi Giấy chứng nhận hoặc thông báo Giấy chứng nhận không còn giá trị pháp lý đối với trường hợp người sử dụng đất không chấp hành việc nộp lại Giấy chứng nhận.

Về hình thức, nội dung quyết định theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường qui định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất.

Tuy nhiên, nếu một Quyết định thu hồi đất không tuân theo đúng mẫu này nhưng thỏa mãn qui định tại khoản 1,2 Điều 3 Luật TTHC, thì hình thức, nội dung quyết định đó cũng đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật.