1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Lịch sử nghề luật sư ở Việt Nam" được biên soạn bởi Luật sư Phan Đăng Thanh và Luật sư Trương Thị Hòa.

Là hai luật sư có quá trình hoạt động nghề nghiệp gần như suốt đời mình, Luật sư Phan Đăng Thanh và Luật sư Trương Thị Hòa còn là hai nhà nghiên cứu lịch sử, từng nhiều năm tham gia giảng dạy bộ môn “Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam” ở các Trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh (như: Trường Đại học Mở - Bán công, Đại học Luật, Đại học Tổng hợp sau là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh…) và diễn giảng các môn về kỹ năng hành nghề tại Trường đào tạo nghề luật sư thuộc Bộ Tư pháp - Học viện Tư pháp hiện nay.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Lịch sử nghề luật sư ở Việt Nam

Lịch sử nghề luật sư ở Việt Nam

Tác giả: Luật sư Phan Đăng Thanh và Luật sư Trương Thị Hòa

Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

3. Tổng quan nội dung sách

Lịch sử nghề luật sư ở Việt Nam là công trình nghiên cứu độc lập về quá trình hình thành và phát triển nghề nghiệp luật sư ở nước ta, từ thời kỳ đầu tiên dưới ách độ hộ của thực dân Pháp, qua các chế độ trước năm 1975, cho đến ngày nay. Đây là quyển sách chuyên khảo liên ngành tiếp theo quyển Truyền thống luật sư Việt Nam cũng do hai tác giả biên soạn, được Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản cuối năm 2014, đã được dư luận độc giả hoan nghênh, tìm đọc.

Để làm rõ quá trình hình thành và phát triển nghề luật sư ở nước ta, quyển sách này được chia làm 3 chương, mỗi chương dành cho một chế độ chính trị - pháp lý khác nhau.

Cụ thể như sau:

Chương I. Nghề luật sư thời Pháp thuộc (1858 - 1945)

Mục 1. Quy chế pháp lý

I. Chế định bào chữa viên và luật sư bào chữa ở Nam Kỳ theo Nghị định 26/11/1867 của Thống đốc Nam Kỳ và các Sắc lệnh sửa đổi, bổ sung của Tổng thống Cộng hòa Pháp vào các năm 1884 và 1888

II. Chế định luật sư bào chữa theo Sắc lệnh ngày 30/4/1911

III. Chế định luật sư theo Sắc lệnh của Tổng thống Cộng hòa Pháp ngày 25/5/1930 được sửa đổi bởi Sắc lệnh của Tổng thống Cộng hòa Pháp ngày 24/7/1931

Mục 2. Một số vụ án có luật sư tham gia

I. Vụ án Phan Bội Châu ở Hà Nội năm 1925

II. Vụ án Hội kín Nguyễn An Ninh ở Sài Gòn năm 1929

III. Vụ án Đồng Nọc Nạn ở Bạc Liêu năm 1928

Mục 3. Chân dung một số luật sư

Chương II. Nghề luật sư thời Quốc gia Việt Nam (1949 1955) và Việt Nam cộng hòa (1955 - 1975)

Mục 1. Quy chế pháp lý

I. Thời Quốc gia Việt Nam có Dụ số 25, sửa đổi bởi Dụ số 41

II. Thời Việt Nam Cộng hòa có Luật số 1/62 sửa đổi bởi Sắc luật số 025/66

Mục 2. Vụ án có luật sư tham gia

- Vụ án Ngô Đình Cẩn ở Sài Gòn năm 1964

Mục 3. Chân dung một số luật sư

Chương III. Nghề luật sư thời cách mạng (từ 1945 đến nay)

Mục 1. Quy chế pháp lý

I. Mấy năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (1945 - 1949): Lập lại nghề luật sư theo Sắc lệnh số 46 ngày 10/10/1945

II. Từ 1949 đến 1987: Quy chế bào chữa viên theo Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949, Sắc lệnh số 144/SL ngày 22/12/1949 và Nghị định số 1/NĐ-VY ngày 12/1/1950 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc; Thông tư số 06/BTT-TT ngày 11/6/1976 của Bộ Tư pháp Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam ở miền Nam; và Thông tư số 691/TPK ngày 31/10/1983 của Bộ tư pháp Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất

III. Nghề luật sư Việt Nam phát triển trong tình hình, nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam

Mục 2. Vụ án có luật sư tham gia

- Vụ án Vườn điều ở Bình Thuận (1993 - 2005)

Mục 3. Chân dung một số luật sư

Ở mỗi chương, tức vào mỗi thời kỳ, dưới mỗi chế độ, tác giả trình bày quy chế pháp lý của nghề luật sư do nhà nước đương thời quy định; giới thiệu một số vụ án điển hình có luật sư tham gia; và sơ nét chân dung một số luật sư tiêu biểu nổi tiếng trong thời kỳ đó.

Cuối sách là phần phụ lục, in toàn văn các văn bản pháp luật quan trọng liên quan đến nghề luật sư từ thời Pháp thuộc đến nay.

Chân dung một số luật sư được nêu trong cuốn sách được tác giả đã sưu tầm các nguồn tài liệu khả tín từ các Kho lưu trữ quốc gia của Nhà nước qua các thời kỳ, Thư viện Khoa học Tổng hợp và Thư viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, các sách báo và hình ảnh từ nguồn mạng điện tử, tư liệu gia đình do người thân của các cố luật sư cung cấp.

4. Đánh giá bạn đọc

So với các ngành, nghề truyền thống lâu đời khác như “ngư, tiều, canh, mục”, “sĩ, nông, công, thương, binh” thì nghề luật sư ở Việt Nam còn khá non trẻ. Tuy nhiên, nếu tính theo thực tế từ thì nghề này đã xuất hiện ở nước ta đã hơn một thế kỷ.

Một bạn đọc đã có đánh giá về nội dung cuốn sách như sau: "Quyển sách rất hay và bổ ích, giới thiệu được quá trình hình thành phát triển nghề luật ở việt nam. Từ giai đoạn Pháp thuộc cho tới khi đất nước giải phóng, đổi mới mở cửa đất nước và phát triển. Trong giai đoạn hiện nay, vai trò và tầm quan trọng của nghề luật đang được xã hội, mọi người dân dần coi trọng và quan tâm, chỗ đứng trong xã hội cũng lớn mạnh. Và quyến sách sẽ là tiền đề cho những ai mê theo đuổi ngành này. Chúc các bạn thành công trên con đường lập nghiệp"

Có thể nói, đây là quyển sách hữu ích đối với các nhà nghiên cứu, các sinh viên và các luật sư, cũng như độc giả xa gần có lòng quan tâm đến vấn đề này.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Lịch sử nghề luật sư ở Việt Nam".

Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây tiểu sử về Luật sư Phan Văn Trường (thế hệ luật sư đầu tiên ở nước ta) để bạn đọc tham khảo:

Phan Văn Trường - một học giả uyên bác, tinh thông văn hóa kim cổ đông tây, và là một trí thức yêu nước, tiến bộ.

Ông đã dành trọn cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ công lý và là một trong những người đầu tiên tạo lập nên truyền thống cho nghề luật sư ở Việt Nam.

Một trí thức yêu nước, tiến bộ

Phan Văn Trường sinh ngày 25/9/1876 (tức ngày 7-8 năm Bình Tý) tại xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, trong một gia đình khoa bảng. Ông nổi tiếng thông minh và chăm chỉ.

Ngay từ nhỏ ông đã học chữ Hán sau đó chuyển sang học chữ quốc ngữ rồi chữ Pháp. Sau khi tốt nghiệp Trường thông ngôn ở Hà Nội, Phan Văn Trường làm thông ngôn ở văn phòng Phủ Thống đốc xứ Bắc Kỳ.

Năm 1908, ông lên đường sang Pháp theo học ngành Luật tại Đại học Sorbonne, Paris, rồi trình luận án Tiến sĩ và hành nghề luật sư, ông trở thành tiến sĩ luật học và là luật sư đầu tiên của Việt Nam.

Quá trình học của ông là quãng thời gian dài đầy gian truân vất vả… Tại Pháp, ông từng làm giáo sư phụ giảng tiếng Việt tại Trường Ngôn ngữ và Văn minh Đông phương. Vốn nhanh nhẹn, làm việc chăm chỉ, ông vừa dạy vừa ghi danh học Luật và Văn khoa. Vài năm sau, ông thi đỗ cử nhân hai ngành cùng một lúc.

Ngoài ra, ông còn tích cực hoạt động yêu nước và giao lưu, bảo vệ nhiều người Việt Nam có cùng chí hướng. Ông thường xuyên liên hệ với Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc và các nhà trí thức tiến bộ, cùng tham gia các hoạt động cách mạng.

Năm 1912, ông tham gia đoàn luật sư Paris và hành nghề ở Tòa Thượng thẩm. Chủ nhiệm đoàn luật sư là một người Pháp tiến bộ, rất tin tưởng tài năng và đức độ của ông, kính trọng một luật sư người Việt xuất sắc, ham học.

Tại Paris, ông gặp cụ Phan Châu Trinh, hai chí sĩ họ Phan đã lập ra “Hội đồng bào thân ái”, tập hợp những người Việt Nam sinh sống học tập lao động tại Pháp. Ông là người dịch ra tiếng Pháp những tư tưởng của Phan Châu Trinh.

Khi Nguyễn Ái Quốc đến Pháp, gặp Phan Văn Trường, thì chính nhà luật sư Việt kiều yêu nước này đã hỗ trợ Bác trong việc diễn đạt ra Pháp văn những ý tưởng chính luận của Bác một cách hùng hồn. Cái tên Phan Văn Trường cùng với Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc đã hợp thành bộ ba thường xuyên có mặt trong các báo cáo mật của cơ quan an ninh Pháp.

Năm 1917, Phan Văn Trường cùng với Nguyễn Ái Quốc thành lập và chỉ đạo “Hội những người Việt Nam yêu nước”. Ngày 18/6/1919, Nguyễn Ái Quốc đã gửi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Versailles. Chính Phan Văn Trường là người công bố Bản yêu sách bằng tiếng Pháp trên các báo ở Paris - một văn bản có giá trị khiến Chính phủ Pháp phải bối rối.

Cuối năm 1919, ông sang Mayence (Đức) làm Luật sư và thỉnh thoảng mới trở về Paris. Tuy nhiên, mỗi lần trở về thủ đô nước Pháp là một lần ông tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng bên cạnh Nguyễn Ái Quốc.

Một tấm gương sáng về trí tuệ và nhân cách

Tiếp tục với con đường cách mạng đấu tranh vì độc lập tự do của nước nhà, ông được người đời ngưỡng mộ bởi một con người học tập, sống và làm việc ở giữa trời Tây mà dám đứng lên chống thực dân Pháp. Ông rất thông minh và khôn khéo sử dụng sự am hiểu pháp luật và quốc tịch Pháp làm “lá chắn” trong quá trình hoạt động cách mạng của mình.

Năm 1922, ông ghi tên vào danh sách Đoàn luật sư Paris và hành nghề tại Toà thượng thẩm Paris. Ông thường bênh vực quyền lợi của nhân dân nên được mọi người rất quý mến.

Cuối năm 1923, ông từ bỏ tất cả về nước tiếp tục đấu tranh cho độc lập dân tộc. Ông kết hợp giữa pháp lý với báo chí để chiến đấu. Ông đã tham gia một số hoạt động trong Ban nghiên cứu thuộc địa và viết nhiều bài đăng báo Le Paria (Người cùng khổ) - tờ báo do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.

Ông mở một văn phòng luật sư tham vấn ở Sài Gòn. Một mặt hành nghề luật sư, một mặt ông cùng với Nguyễn An Ninh xuất bản báo Chuông rè (La Cloche Fêlée) và Nước Nam (L'Annam) bằng tiếng Pháp tại Sài Gòn để đấu tranh chống thực dân Pháp. Những bài báo trên hai tờ báo này đều công khai tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, lên án mạnh mẽ chính sách của người Pháp ở Đông Dương.

Từ tờ báo cho đến những buổi diễn thuyết chống thực dân trước sự cổ vũ cuồng nhiệt của hàng nghìn thanh niên Việt Nam, ông luôn bày tỏ thái độ chống thực dân, tấn công cái gọi là “Pháp Việt đề huề”. Ông viết nhiều báo hơn với nhiều hình thức phong phú như luận văn chính trị, tiểu thuyết, danh ngôn… nhằm tuyên truyền tinh thân yêu nước, chống đế quốc.

Về những đóng góp của ông, Giáo sư Nguyễn Phan Quang và Phan Văn Hoàng đã viết: “Rõ ràng tờ La Cloche Fêlée và L'Annam là những cái gai chọc vào mắt chính quyền thuộc địa. Nhưng Phan Văn Trường đã biết tận dụng những kẽ hở trong luật pháp thực dân đối với tờ báo tiếng Pháp để truyền bá một cách kín cạnh những tư tưởng yêu nước và tiến bộ”.

Chính vì lẽ đó, ngày 25/7/1927, thực dân Pháp đã một lần nữa bắt và ghép cho ông tội “xúi giục người bản xứ chống đối và dấy loạn”. Tờ báo L'Annam bị ngừng xuất bản một thời gian. Ngày 12/1/1928, tờ báo lại tiếp tục xuất bản. Trước thái độ kiên cường ấy, Thống đốc Nam Kỳ đã truy tố và bỏ tù tất cả Ban giám đốc và cộng sự của tờ báo.

Ngày 27/3/1928, Tòa án Sài Gòn xử tội ông 2 năm tù. Ông chống án sang Pháp. Tháng 8/1929, Tòa Thượng thẩm Paris xử y án. Ông bị giam tại nhà lao ở Pháp đến năm 1931 mới mãn hạn tù và trở về Sài Gòn. Ông lại tiếp tục đấu tranh đòi dân chủ ngay sau khi ra tù.

Ông trở lại Sài gòn và gặp lại Nguyễn An Ninh với ý định tiếp tục cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp trên mặt trận báo chí công khai. Tuy nhiên, ý nguyện của ông đã không thành. Năm 1933, ông về Hà Nội để thăm gia đình. Trong thời gian ở Hà Nội, ông đã bị bệnh bất ngờ và qua đời tại quê nhà ngày 23/4/1933, ở tuổi 57.