1. Giới thiệu tác giả
Sách "Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp và Pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp dành cho thẩm phán" do tác giả Quí Lâm hệ thống.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp và Pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp dành cho thẩm phán
Tác giả: Quí Lâm
Nhà xuất bản Lao Động – Xã hội
3. Tổng quan nội dung sách
Luật Hòa Giải, Đối Thoại Tại Tòa Án số 58/2020/QH14 ngày 16-6-2020 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 9 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2021). Nội dung nổi bật của Luật là không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án trong 07 trường hợp sau đây:
- Yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước;
- Vụ việc phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội;
- Đương sự đã được mời tham gia hòa giải, đối thoại hợp lệ lần 2 mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể tham gia hòa giải, đối thoại được vì lý do chính đáng;
- Một bên vợ hoặc chồng trong tranh chấp ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự;
- Một trong các bên đề nghị không tiến hành hòa giải, đối thoại;
- Một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính;
- Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, ngày 10-6-2020 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV cũng đã thông qua Luật Giám Định Tư Pháp sửa đổi số 56/2020/QH14 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2020), bổ sung thêm một số trường hợp miễn nhiệm giám định viên tư pháp…
Nhằm mục đích, góp phần tuyên truyền, phổ biến các chính sách mới nhất về công tác thẩm phán. Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội xuất bản cuốn sách: "Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án – Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật giám định tư pháp và pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp dành cho thẩm phán" do tác giả Quí Lâm hệ thống.
Nội dung của cuốn sách bao gồm những phần chính sau:
Phần I. Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giám định tư pháp
Phần này tác giả trình bày toàn văn Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án 2020 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giám định tư pháp 2020.
Phần II. Nguyên tắc áp dụng pháp luật và những quy định của Luật pháp về việc yêu cầu đổi thẩm phán
Mục I. Nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán và những quy định của luật pháp về việc yêu cầu đối thẩm phán
1. Pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp về tài sản chung của dòng họ (Nghị quyết 01/2020/NQ-HĐTP)
2. Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm (Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP)
3. Giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu (Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP)
4. Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP)
5. Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán (Quyết định 87/QĐ-HĐTC)
6. Nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán
Mục II. Nguyên tắc áp dụng pháp luật
1. Nguyên tắc áp dụng pháp luật
2. Quy định của luật pháp về việc yêu cầu đổi thẩm phán
Phần III. Án lệ - những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động xét xử
1. Tìm hiểu về án lệ
2. Các án lệ đã công bố
Phần IV. Các Nghị quyết, quyết định, thông tư quan trọng liên quan công tác xét xử tại Tòa án
I. Các nghị quyết do quốc hội, tòa án nhân dân tối cao ban hành
1. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định vè mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
2. Nghị quyết 333/2017/UBTVQH14 BAn hành quy chế phối hợp giữa tòa án nhân dân tối cao và Bộ quốc phòng trong việc quản lý các Tòa án quân sự về tổ chức
3. Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
4. Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13
5. Nghị quyết 03/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật phá sản
6. Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015
7. Nghị quyết 03/2017/NQ-HĐTP Về việc công bố bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử của Tòa án
8. Nghị quyết 04/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
II. Những quyết định của Tòa án nhân dân tối cao trong việc thực hiện chỉ thị 35-CT/TW và một số công tác khác
III. Thông tư của Bộ tư pháp, Bộ quốc phòng liên quan đến việc thi hành án
Dưới đây, Luật Minh Khuê chia sẻ một số quy định tại Nghị quyết 04/NQ-HĐTP hướng dẫn về trả lại đơn khởi kiện tại Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để bạn đọc tham khảo:
Điều 2. Về người khởi kiện không có quyền khởi kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp;
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.
Ví dụ: Tổ chức A (không phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010) cho rằng Công ty B bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng như đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết dẫn đến việc chị C (người tiêu dùng) mua sử dụng bị thiệt hại nên Tổ chức A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty B bồi thường thiệt hại cho chị C. Trường hợp này, Tổ chức A không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 3 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ.
Ví dụ: Cụ A chết năm 2010, để lại di sản là căn nhà X nhưng không có di chúc và không có thỏa thuận khác. Cụ A có con là ông B (còn sống, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp này, theo quy định của pháp luật về thừa kế thì anh C là con của ông B không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ A theo pháp luật.
Điều 3. Về chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
1. Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.
Ví dụ: Công ty A là người sử dụng lao động ký hợp đồng với ông B, trong hợp đồng ghi rõ ông B sẽ được Công ty cho đi học nghề 01 năm, đồng thời ông B có nghĩa vụ làm việc tại Công ty ít nhất là 05 năm kể từ thời điểm học xong. Tuy nhiên, sau khi học xong ông B chỉ làm việc ở Công ty A 02 năm. Công ty A khởi kiện ông B ra Tòa án buộc ông B hoàn trả chi phí đào tạo học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động. Trường hợp này, theo quy định tại Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012, khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Công ty A chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án.
2. Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.
Điều 4. Về vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là trường hợp mà theo quy định của pháp luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết.
Ví dụ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai mà đối với thửa đất đó cơ quan, tổ chức, cá nhân không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 có quyền lựa chọn Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và cơ quan đó đang giải quyết tranh chấp thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
4. Đánh giá bạn đọc
Tác giả đã trích dẫn toàn văn hai Luật mới để phục vụ bạn đọc tra cứu, tìm hiểu nhằm phổ biến pháp luật sâu rộng trong nhân dân nói chung và phục vụ công tác tòa án nói riêng đó là: Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án 2020 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật giám định tư pháp 2020.
Bên cạnh đó, tác cũng trình bày nhiều nội dung hướng dẫn công tác đối với ngành Tòa án và hoạt động của Thẩm phán trong xét xử: quy tắc đạo đức ứng xử, kỹ năng nghề nghiệp, án lệ,...
Bằng việc hệ thống nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn công tác ngành tòa án, nội dung cuốn sách được có giá trị thực tiễn đối với bạn đọc.
Cuốn sách "Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp và Pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp dành cho thẩm phán" do Quí Lâm hệ thống là tài liệu hữu ích đối với cán bộ ngành tòa án.
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!