1. Giới thiệu tác giả
Sách Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người do PGS.TS. Nguyễn Minh Tuấn – TS. Mai Văn Thắng (đồng chủ biên).
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Minh Tuấn – TS. Mai Văn Thắng (đồng chủ biên)
Nhà xuất bản: Đại học Quốc gia Hà Nội
3. Tổng quan nội dung sách
Trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Việt Nam thời trung đại nói riêng, triều Hậu Lê (1428 – 1789) lâu nay vẫn được đánh giá là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất. Đây là giai đoạn lịch sử đã để lại nhiều dấu ấn, thành tựu quan trọng nhất về phương diện cải cách kinh tế, giáo dục và đặc biệt là về phương diện tổ chức bộ máy nhà nước, xây dựng, thực thi, bảo vệ pháp luật và bảo vệ quyền con người.
Thành tựu đặc sắc bậc nhất về pháp luật trong lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam thời trung đại chính là Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) và Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ triều Hậu Lê. Đây là những Bộ luật phản ánh trung thực, rõ nét nhất trạng thái chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Đại Việt triều Hậu Lê. Những Bộ luật này đã trở thành khuôn mẫu cho các triều đại sau với nhiều lần được bổ sung, sửa chữa. Trong hoàn cảnh và trình độ pháp lý của thời kỳ này, tính chất hoàn thiện, hệ thống, phong phú, nhưng cũng rất chặt chẽ, cụ thể của Quốc Triều Hình Luật triều Hậu Lê, Bộ Quốc Triều Khám Tụng điều lệ hàm chứa nhiều giá trị kế thừa từ kỹ thuật lập pháp đến việc bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền các nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong các chế định thuộc lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính và tố tụng.
Có thể nói việc nghiên cứu nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê, qua đó chỉ ra những giá trị đương đại, những giá trị cần tham khảo, kế thừa vào công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc nghiên cứu, kế thừa những giá trị lịch sử - pháp lý triều Hậu Lê chắc chắn sẽ góp phần tích cực, tạo điều kiện cho việc phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả giáo dục, thực thi pháp luật, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay.
Do ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề, nên việc nghiên cứu về nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê đã được nghiên cứu khá sớm ở nước ta. Nhằm cung cấp cho bạn đọc nguồn tư liệu tham khảo trong vấn đề bảo vệ quyền con người, tập thể tác giả biên soạn cuốn sách "Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người".
Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:
Chương 1. Triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người trong bối cảnh xã hội phong kiến Việt Nam
1.1. Triều Hậu Lê - triều đại đạt được nhiều thành tựu về bảo vệ quyền con người trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
1.2. Tư tưởng về nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê
1.3. Bối cảnh, tình hình chung và các chính sách của triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người
1.4. Khái quát về tổ chức nhà nước triều Hậu Lê
1.5. Khái quát về những thành tựu pháp luật triều Hậu Lê
Chương 2. Tổ chức nhà nước triều Hậu Lê với việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người
2.1. Bảo vệ quyền con người bằng cơ chế giám sát quyền lực trong nhà nước triều Hậu Lê
2.2. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người bằng thiết chế tự quản – tự trị làng xã
2.3. Đánh giá chung về tổ chức nhà nước triều Hậu Lê trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người
Chương 3. Pháp luật triều Hậu Lê với việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người
3.1. Quốc triều hình luật – văn bản pháp luật tổng hợp ghi nhận và bảo vệ quyền con người
3.2. Quốc triều khám tụng điều lệ - văn bản bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng
3.3. Đánh giá chung về pháp luật triều Hậu Lê trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người
4. Đánh giá bạn đọc
Cuốn sách "Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người" được biên soạn giới thiệu tới bạn đọc những nội dung bao gồm: chỉ ra một số đặc trưng, giá trị lịch sử và giá trị pháp lý tiêu biểu về Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền cong người, đồng thời tổng hợp những đặc trưng cụ thể đó để chỉ ra một số giá trị đương đại, những giá trị cần kế thừa vào công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển bền vững, bảo vệ con người trong giai đoạn hiện nay.
Cuốn sách không chỉ có giá trị về mặt khoa học pháp lý mà còn có giá trị thực tiễn trong việc xây dựng pháp luật và cơ chế thực thi, bảo vệ quyền con người hiệu quả ở nước ta.
Cuốn sách chuyên khảo này sẽ là một tài liệu hữu ích với các giảng viên, học viên và sinh viên trong giảng dạy, nghiên cứu về nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người".
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây việc giám sát quyền lực trong Nhà nước thời Hậu Lê để bạn đọc tham khảo:
Nhà Hậu Lê (1428 - 1789) là triều đại huy hoàng, rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, ra đời sau khởi nghĩa Lam Sơn vĩ đại, do Bình Định Vương Lê Lợi lãnh đạo, với sự cống hiến của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Nhà Hậu Lê tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam, kéo dài 371 năm, trải qua 26 đời vua - gồm 10 đời vua Lê Sơ (1428 - 1527) và 16 đời vua Lê Trung hưng (1533 - 1789). Bên cạnh các vua Lê Trung Hưng còn có 11 chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và 9 chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Thời Hậu Lê đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của bộ máy nhà nước và quá trình pháp điển hóa trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Dưới triều vua Lê Thánh Tông đã lệnh cho các văn thân nổi tiếng như Thân Nhân Trung, Quách Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm Văn Lễ biên tập bộ Thiên Nam Hạ Tập góp nhặt những chế độ, luật lệ, văn hành, sách cáo gồm 100 quyển hội điển. Đối với vấn đề thực hiện kiểm soát quyền lực đối với quan lại, nhà Hậu Lê chủ trương thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua các biện pháp căn bản bao gồm đặt ra quy định pháp luật về phân chia quyền lực nhà nước cho các cơ quan, cá nhân khác nhau, thiết lập các đơn vị, cơ quan có chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan chuyên môn và quy định chế độ khen thưởng rõ ràng.
Giám sát quyền lực qua việc phân chia quyền lực, chức năng giữa cơ quan, cá nhân ở Trung ương và địa phương
Việc phân tán quyền lực được tiến hành thông qua các cải cách, tập trung hóa quyền lực nhà nước ở địa phương và trung ương. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông cho hiệu đính Lê triều quan chế, xác định việc sắp xếp quan chức là “đề cho lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, khinh trọng cùng kiềm chế nhau". Sau cuộc cải tổ hành chính của vua Lê Thánh Tông, tổng số viên chức lên đến con số 5.370 người, tức 0,1% dân số, trong số này, 2.755 làm việc tại triều đình (399 dân sự, 1.910 quân sự và 466 tùy tùng) và 261 làm việc ở các địa phương (926 dân 857 quân sự, 41 tùy tùng và 791 phụ trách các chức vụ thứ yếu). Thông qua cuộc cải cách này, bộ máy nhà nước trung ương đã được “xếp đặt phân minh, phân công rõ ràng, không dẫm đạp lên nhau. Ngoài việc lập ra các cơ quan kiểm tra, chấp hành, điều hành là sáu bộ, sáu tự, Lê Thánh Tông còn lập ra một mạng lưới các cơ quan kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân nắm quyền lực là sáu khoa, Ngự sử đài, các quan ngự sử ở các đạo… coi trọng sự phân chia và kiểm soát lẫn nhau giữa hệ thống hành chính, quân sự, tư pháp và giám sát”. Bên cạnh đó, chức năng, nhiệm vụ các cơ quan cũng được sắp đặt, phân công một cách tương đối hoàn chinh.
Đối với các chức quan đứng đầu triều, khác với thời Lý, thời Hậu Lê không tiến hành đặt ra các chức quan Tể tướng, thay vào đó quyền hành của đại thần đứng đầu được phân chia cho các chức quan khác nhau. Các cải cách, sửa đổi liên quan đến các chức quan đứng đầu quan lại triều đình được vua Lê Thánh Tông cho rằng nhằm mục tiêu “hiểu hết mọi đạo biến thông”. Theo Lê triều quan chế: Các chức trọng của đại thần gồm: Thái sư, Thái úy, Thái phó và Thái bảo (đều hàm chánh nhất phẩm), Thiếu sư, Thiếu úy, Thiếu phó, Thiếu bảo (đều hàm chánh nhị phẩm). Tuy nhiên, những chức vụ trên cũng chỉ mang tính chất phong tặng cho các đại thần có công lao chứ không nắm quyền hành thực sự như những đời trước. Chức năng của các cơ quan ở Trung ương cũng được phân chia, phân công một cách tương đối hoàn thiện cho Lục bộ và Lục tự.
Thời kỳ Hậu Lê, bộ máy nhà nước được chia thành 6 bộ, bao gồm Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình Công. Đứng đầu mỗi Bộ là 1 vị Thượng thư và 2 vị Tả Hữu Thị Lang. Bên cạnh Lục bộ, nhà Hậu Lê tiến hành đặt Lục Tự (năm 1466), vào thời gian đầu các chức quan đứng đầu mỗi tự chưa được đặt chuyên trách mà để viên quan đứng đầu các bộ đảm nhiệm. Giữa các cơ quan này luôn có sự phối hợp, chi phối đồng thời kiểm soát lẫn nhau, chẳng hạn như “gọi lính lấy quân là việc của Đốc phủ, mà thể thống nhất phải do Bộ Binh; chi ra thu vào là việc của Bộ Hộ, mà giúp đỡ tất có Khoa Hộ.” . Như vậy, không một cơ quan nào có thể nắm hoàn toàn các quyền lực tại Trung ương được, các công việc đều được thực hiện dưới sự điều hành của nhà Vua, đảm bảo quyền lực không thể tập trung quá nhiều vào một chủ thể hoặc khả năng một chủ thể nắm quá nhiều quyền lực dẫn đến lạm quyền, tiếm quyền.
Xu hướng giám sát quyền lực và phân chia quyền lực của nhà nước được tiếp tục tại các cấp chính quyền địa phương. Hệ thống chính quyền quân chủ ngay từ thời đầu của Lê Thái Tổ đã chi phối khá chặt chẽ tới tận xã”. Thời Vua Lê Thánh Tông đã tiến hành chuyển 5 đạo từ thời Lê Thái Tổ thành 12 đạo thừa tuyên với mục đích nhằm tạo sự thống nhất trong việc quản lý hành chính và phân chia quyền lực để không một địa phương nào có đủ quyền lực để tiến hành cát cứ. Bộ máy quản lý nhà nước tại địa phương bao gồm Đô Ty – Thừa Ty – Hiến Ty chưởng quản, phân lập giữa các quyền Bình – Chính – Hình. Mục đích của sự phân chia “nhằm thu bớt quyền hành của các quan lại của các địa phương, tập trung quyền về trung ương và hạn chế khuynh hướng phân tán trong xã hội”. Mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương dưới thời Hậu Lê cũng được nhà nước điều chỉnh một cách chặt chẽ.
Nguyên nhân việc kiểm soát quyền lực địa phương không chỉ dừng lại ở việc chống cát cứ mà còn nhằm đảm bảo việc thống nhất thi hành các quyết sách của quốc gia. Ở nước ta, cơ cấu làng và nước tồn tại khá chặt chẽ, một mặt cải thiện sức đoàn kết của nhân dân nhưng mặt khác lại khiến cho các chính sách của quốc gia không thống nhất, quan lại cấp xã có điều kiện để làm việc tùy tiện. Quan lại ở cấp xã – cấp thấp nhất trong hệ thống hành chính, cũng quy định chặt chẽ danh ngạch, điều kiện để làm xã trưởng, việc bầu xã trưởng báo lên trên, nếu bầu sai sẽ bị bãi bỏ. Do đó, những cơ chế kiểm soát quyền lực của nhà Hậu Lê đã góp phần quan trọng trong việc tạo nên tính thống nhất, chặt chẽ của các chính sách do chính quyền trung ương ban hành.