1. Giới thiệu tác giả

Sách Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn do  TS. Nguyễn Văn Quyền – PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn đồng chủ biên.

Với sự cộng tác của các cán bộ tham gia nghiên cứu đề tài:

LG. Lê Thị Thu Ba

GS.TSKH. Đào Trí Úc

ThS. Bùi Ngọc Hòa

TS. Lê Hữu Thể

TS. Nguyễn Văn Luật

ThS. Nguyễn Văn Pha

GS.TS. Nguyễn Ngọc Anh

ThS. Trình Xuân Toản

TS. Lưu Bình Nhưỡng

TS. Nguyễn Văn Hiển

ThS. Đào Thị Hoài Thu

ThS. Nguyễn Văn Dũng

và một số cán bộ khác.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn

Sách Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn

Tác giả: TS. Nguyễn Văn Quyền – PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn (đồng chủ biên)

Nhà xuất bản Tư pháp

 

3. Tổng quan nội dung sách

Quyền tư pháp là một dạng quyền lực nhà nước, được minh định thi quyền lực nhà nước phân chia thành ba quyền độc lập, bổ trợ và kiểm soát lẫn nhau. Đó là các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp

Kiểm soát quyền tư pháp là vấn đề nan giải và phức tạp cả trên góc độ lý luận và thực tiễn, điều này xuất phát từ những màu thuận nội tại của bản thân đời sống xã hội và tính đặc thù của quyền tư pháp đó là sự độc lập trong mối quan hệ với quyền lập pháp và hành pháp.

Cải cách tư pháp là một chủ trương lớn của đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Nghị quyết 49 nghị quyết trung ương ngày hai tháng sáu 2005 của bộ chính trị khóa chín về chiến lược cải cách tư pháp đến 52020 là chủ trương cải cách sâu sắc và toàn diện nhất trong quá trình hình thành, phát triển của hệ thống tư pháp Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Mục tiêu của chiến lược cải cách tư pháp và xây dựng nền tư pháp trong sạch vững mạnh dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp màTrọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao.
Trong cải cách tư pháp, việc nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về quyền tư pháp là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương nhiệm kỳ 2011 2016 đã chỉ đạo việc tổ chức nghiên cứu đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước: quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với sự tham gia của các cơ quan tư pháp trung ương, của nhiều nhà khoa học và cán bộ hoạt động thực tiễn. Kết quả nghiên cứu Đề tài được biên soạn thành cuốn sách: quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn.

Là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước, cuốn sách quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền tại hội chủ nghĩa Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn đề cập những vấn đề lý luận cơ bản về tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như bản chất của quyền tư pháp; những giá trị phổ biến trở, những giá trị đặc thù của quyền tư pháp; làm rõ về mặt khoa học các khái niệm quyền tư pháp, Hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp, các hoạt động mang tính tự phát và bổ trợ tư pháp.

Nội dung cuốn Sách "Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn" gồm 03 chương:

Chương 1: Nhận thức lý luận về quyền tư pháp

1. Các quan niệm về quyền tư pháp

1.1. Quyền tư pháp là một nhánh độc lập trong cơ chế phân chia quyền lực nhà nước

1.2. Quyền tư pháp là nhánh trong cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước

1.3. Quyền tư pháp thuộc cơ quan tòa án và cơ quan kiểm sát

1.4. Quyền tư pháp là quyền lực duy nhất thuộc các tòa án tư pháp

2. Những giá trị phổ biến của quyền tư pháp

3. Những giá trị đặc thù của quyền tư pháp

4. Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện quyền tư pháp

4.1. Những yếu tố lịch sử, văn hóa

4.2. Yếu tố thể chế chính trị

Chương 2: tổ chức thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới

1. Tổ chức thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay

1.1. Cơ quan tư pháp những ngày đầu của chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa

1.2. Tổ chức và thực hiện quyền tư pháp theo Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992

1.3. Tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp từ khi có Hiến pháp năm 2013 đến nay

2. Tổ chức thực hiện quyền tư pháp ở một số quốc gia trên thế giới

2.1. Các quốc gia theo hệ thống thông luật

2.2. Các quốc gia theo hệ thống luật dân sự

2.3. Các quốc gia chuyển đổi

2.4. Các quốc gia Hồi giáo

Chương 3: quyền tư pháp và mô hình tổ chức thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau năm 2020

1. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đặc điểm tổ chức thực hiện quyền tư pháp

1.1. Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

1.2. Những đặc trưng của quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2. Quyền tư pháp, các hoạt động tư pháp, các hoạt động mang tính tư pháp và bổ trợ tư pháp

2.1. Quyền tư pháp

2.2. Các hoạt động tư pháp, các hoạt động mang tính tư pháp và bổ trợ tư pháp

3. Mô hình tổ chức thực hiện quyền tư pháp sau năm 2020

3.1. Những thách thức đặt ra cho các cơ quan tư pháp

3.2. Những yêu cầu đặt ra cho mô hình tổ chức thực hiện quyền tư pháp sau năm 2020

3.3. Mô hình tổ chức thực hiện quyền tư pháp sau năm 2020

Quan niệm về quyền tư pháp:

Tư tưởng, quan niệm về quyền tư pháp có từ thời cổ đại. Quyền tư pháp lần đầu tiên được sử dụng trong Bộ luật Hammurabi – được ban hành từ 1.700 năm trước Công nguyên, với nghĩa là quyền lực xét xử (phân xử, phán xét).

Trong quá trình phát triển, quyền tư pháp và quan niệm về quyền tư pháp, thực hiện quyền tư pháp gắn liền với sự ra đời và phát triển của tư tưởng, học thuyết  phân quyền. Tư tưởng phân quyền có từ thời cổ đại, nhưng bị lãng quên trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến; khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu được hình thành thì tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước được hồi sinh và phát triển.

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và việc thực hiện các quyền đó nằm trong tay một nhà quân chủ và các chế độ xã hội đó là các xã hội chuyên quyền, độc đoán, không có sự phân quyền. Tư tưởng phân quyền ra đời từ thời kỳ này nhằm hạn chế bớt sự chuyên quyền, độc đoán đó. Đại diện là tư tưởng của Platôn (427 – 347 trước Công nguyên) và của Aristốt (384 – 322 trước Công nguyên).

Ngay từ thời Hy Lạp, La Mã cổ Đại người ta đã khẳng định: Ở đâu có pháp luật, thì ở đó phải có một hệ thống bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh. Sự bảo đảm đó trước hết phải bằng hoạt động của các cơ quan trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước này có chức năng xét xử các hành vi vi phạm các quy định pháp luật của Nhà nước. Đó là hệ thống các cơ quan Tòa án.

Aristốt cho rằng, quyền lực nhà nước được phân chia và được thực hiện bởi ba bộ phận. Thứ nhất, là Hội nghị nhân dân; thứ hai, là các viên chức nhà nước và thứ ba, là cơ quan Tòa án. Khi đề cập đến các Tòa án thì ông cho rằng, có tám loại Tòa án (phân chia theo từng loại việc có đặc trưng khác nhau): Tòa án kiểm tra tư cách pháp quan (những viên chức nhà nước có quyền giải quyết kiện tụng hoặc người có quyền chỉ huy trong một số lĩnh vực) khi họ bỏ việc; Tòa án trừng phạt những người gây thiệt hại cho công chúng; Tòa án có thẩm quyền trong những việc kiện mà Nhà nước là một bên; Tòa án giải quyết các tranh chấp xuất hiện liên quan đến những hợp đồng có giá trị lớn; Tòa án phân xử giữa những người nước ngoài về những vụ giết người; Tòa án giải quyết những vụ việc giữa những người nước ngoài với nhau hoặc giữa người nước ngoài với công dân; Tòa án phân xử các pháp quan với các cá nhân là những người đã kháng án vì việc họ bị phạt tiền. Như vậy, Aristốt đã có tư tưởng phân chia các loại Tòa án theo loại vụ việc.

Tư tưởng phân quyền được kế thừa và phát triển trong chế độ tư sản; học thuyết “phân chia quyền lực” của các học giả tư sản được ra đời, phát triển từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII và đạt được những thành tựu nhất định. Có thể nêu ra những quan điểm mang tính học thuyết điển hình sau đây:

John Locke cho rằng, quyền lực nhà nước được phân thành quyền lập pháp và quyền hành pháp (quyền tư pháp chỉ là một bộ phận của quyền hành pháp, nhưng khi xét xử thì có sự tham gia của nhân dân, sự độc lập của Thẩm phán cần phải được tôn trọng).

Môngtexkiơ (Tinh thần pháp luật) quan niệm rằng, quyền lực nhà nước cần phải được phân chia thành: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp  và kiềm chế lẫn nhau; quyền tư pháp cần phải được độc lập, hoạt động xét xử cần phải bảo đảm tính đúng đắn và khách quan.

Quan điểm của Ruxơ cho rằng, quyền lực nhà nước là thống nhất vì nó thuộc về nhân dân, quyền hành pháp gắn liền với quyền lập pháp, quyền tư pháp phải lệ thuộc và tuân theo pháp luật nhưng vẫn có tính độc lập cần thiết với quyền lập pháp và quyền hành pháp; trong sự phân quyền, quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp đặt dưới sự kiểm soát lẫn nhau và được phân chia trước hết theo chiều ngang, giữa ba quyền này có sự phân biệt về chức năng, nhưng hợp tác với nhau, không có quyền lực nào chiếm ưu thế hơn hai quyền lực còn lại và không có quyền lực nào thống trị quyền lực nào; phân quyền theo chiều dọc giữa trung ương và địa phương.

Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, quyền lực nhà nước là thống nhất, thống nhất về bản chất, về mục tiêu, về định hướng hoạt động, bởi vì quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; sự thống nhất không có nghĩa là giao cho một cơ quan thực hiện; kỹ thuật tổ chức và thực hiện quyền lực là có sự phân công, phối hợp, giám sát để thực hiện quyền lực đúng quỷ đạo, hiệu quả, tức là phân công quyền lực hay phân công lao động trong lĩnh vực quyền lực.

 Quyền lực nhân dân được hình thành dựa trên nguyên lý chủ quyền nhân dân, quyền lực nhân dân là quyền lực tối cao và là quyền lực gốc trong xã hội dân chủ; nhân dân trực tiếp thực hiện một phần quyền lực, ủy thác thực hiện quyền lực và kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực đã được ủy thác. Quyền lực nhà nước là một bộ phận của quyền lực nhân dân được hình thành thông qua sự đồng thuận ủy quyền của nhân dân bằng chủ nghĩa lập hiến. Bằng Hiến pháp Nhân dân uỷ thác cho Nhà nước thực hiện một phần quyền lực của mình.

Quyền lực nhà nước là quyền lực ủy quyền của nhân dân, quyền lực nhân dân quyết định mục tiêu, phạm vi, nội dung, cách thức sử dụng quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước phụ thuộc và chịu sự kiểm soát của quyền lực nhân dân.

Quyền lực nhà nước là thống nhất. Tính thống nhất của quyền lực nhà nước xuất phát từ nguyên lý chủ quyền nhân dân. Nhân dân, bằng quyền lực của mình thiết lập ra Nhà nước, ủy quyền cho Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân. Quyền lực nhà nước, xét về bản chất, là loại quyền lực không thể phân chia, chỉ thuộc về chủ thể duy nhất là nhân dân và được thống nhất ở nhân dân.

Sự phân chia hoặc phân công giữa các bộ phận, phạm vi, lĩnh vực, loại quyền lực nhà nước mang tính chất kỹ thuật tổ chức, phân công lao động quyền lực để thực hiện quyền lực nhà nước có hiệu quả, đúng quỹ đạo của nó, phản ánh được ý chí của nhân dân và không làm phương hại đến chủ quyền nhân dân.

Quyền lực nhà nước được phân chia hoặc phân công theo chiều ngang và theo chiều dọc. Theo chiều ngang quyền lực nhà nước được phân thành: quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp, quyền giám sát. Theo chiều dọc quyền lực nhà nước được phân thành: quyền lực trung ương, quyền lực địa phương.

Trong nhận thức phổ quát, quyền tư pháp được giải nghĩa là một trong ba bộ phận, phạm vi, lĩnh vực, loại quyền lực nhà nước: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Quyền tư pháp chỉ thuộc về Tòa án.

Dựa trên nhận thức chung về quyền lực, theo quan điểm của chúng tôi, quyền tư pháp được hiểu là khả năng và năng lực riêng có của Tòa án trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử và các thẩm quyền khác theo phương thức nhất định để tác động đến hành vi của con người và các quá trình phát triển xã hội.

Đây là quan niệm khái quát nhất về quyền tư pháp mà ở đó chỉ rõ các bộ phận cấu thành quan trọng nhất của quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp. Đó là: quyền tư pháp là khả năng và năng lực riêng có của Toà án; quyền tư pháp được thực hiện bằng việc thực hiện thẩm quyền xét xử và các thẩm quyền khác; quyền tư pháp được thực hiện bằng phương thức tố tụng tư pháp; quyền tư pháp và việc thực hiện quyền tư pháp tác động đến hành vi của con người và các quá trình phát triển xã hội. Nội dung của các bộ phận cấu thành quan trọng đó được nhận thức cụ thể thông qua việc phân tích bản chất, phạm vi, nội dung, chủ thể, phương thức và thể chế hoá quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp.

 

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách đề cập những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như bản chất của quyền tư pháp; những giá trị phổ biến, những giá trị đặc thù của quyền tư pháp; làm rõ về mặt khoa học các khái niệm quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp, các hoạt động mang tính tư pháp và bổ trợ tư pháp… Cuốn sách cũng khái quát quá trình tổ chức thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay; đồng thời nêu các yêu cầu và đề xuất các giải pháp về tổ chức thực hiện quyền tư pháp trong những năm tới để cải cách tư pháp đạt được mục tiêu đã đề ra.

 

5. Kết luận

Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người có nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu về cải cách tư pháp nói chung và quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng.

Nội dung cuốn sách được bạn đọc đánh giá hữu ích và rất hài lòng khi sở hữu nó. Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!