1. Đôi nét về tác giả Đỗ Đức Hồng Hà
Đỗ Đức Hồng Hà (sinh ngày 30 tháng 8 năm 1969) là một chính trị gia người Việt Nam. Ông hiện là đại biểu quốc hội Việt Nam khóa XIV nhiệm kì 2016-2021, thuộc đoàn đại biểu quốc hội thành phố Hà Nội, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Phó Chủ tịch Nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Nga.
Ông đã trúng cử đại biểu quốc hội lần đầu năm 2016 ở đơn vị bầu cử số 5 (gồm Đan Phượng, Hoài Đức, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm), thành phố Hà Nội với tỉ lệ 76,69% số phiếu hợp lệ.
Ông hiện là Đảng ủy viên Đảng bộ Bộ Tư pháp, Phó Bí thư Đảng bộ Học viện Tư pháp, Giám đốc Học viện Tư pháp Việt Nam.
(Theo Wikipedia)
2. Hình ảnh sách So sánh Bộ luật Tố Tụng Hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Luật Minh Khuê trân trọng giới thiệu tới bạn đọc hình ảnh cuốn sách So sánh Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Sách xuất bản năm 2016 bởi Nhà xuất bản Hồng Đức.

3. Tổng quan về nội dung sách
Để triển khai thi hành nghị quyết số 110/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự và để giúp bạn đọc, đặc biệt là học viên, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm, luật sư và những người tham gia tố tụng nghiên cứu, học tập, áp dụng Luật Hình sự được thuận tiện, chính xác. Tiến Sỹ Đỗ Đức Hồng Hà (Chủ biên) đã so sánh Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tương ứng với từng điều khoản để chỉ ra điểm kế thừa, điểm mới và những điểm sửa đổi, bổ sung của Bộ luật tố tụng hình sư năm 2015.
Bằng tâm huyết và sự đầu tư thời gian, công sức rất công phu của nhóm tác giả trong việc rà soát kỹ từng phần, chương mục, điều khoản, điểm, câu, chữ… của cả hai bộ luật, nhóm tác giả đã tìm ra và chỉ rõ bằng cách gạch chân những điểm mới và những điểm sửa đổi, bổ sung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 so với Bộ luật tố tụng hình năm năm 2003. Nhờ đó mà cuốn sách này có giá trị thực tế giúp những nhà nghiên cứu, người làm chuyên môn liên quan, học viên và độc giả dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện tìm ra, nắm bắt và vận dụng chính xác những điểm kế thừa, điểm mới và những điểm sửa đổi, bổ sung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Cuốn sách góp phần giúp những người làm chuyên môn xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và áp dụng đúng những quy định có lợi hoặc không có lợi cho bị can, bị cáo.
Mục lục cuốn sách:
- Lệnh về việc công bố Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
- Bảng so sánh: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Phần 1: So sánh những quy định chung giữa Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Phần 2: So sánh các giai đoạn tố tụng giữa Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Lệnh về việc công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
4. Đánh giá người đọc
Như đúng lời tựa của nhóm tác giả: Cuốn sách này không chỉ có ý nghĩa lý luận, ý nghĩa lịch sử mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và bổ ích. Nhóm tác giả đã cẩn trọng rà soát chỉ rõ bằng việc gạch chân những điểm khác nhau giữa 02 Bộ luật này. Có thể khái quát những nội dung lớn được sửa đổi, bổ sung như sau:
Một là, bổ sung quy định các nguyên tắc phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và thực tiễn
Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS năm 2015 được quy định tại Chương II gồm 27 nguyên tắc, trên cơ sở điều chỉnh 30 nguyên tắc của BLTTHS năm 2003 và bổ sung một số nguyên tắc đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nhằm khắc phục những hạn chế của BLTTHS năm 2003, bảo đảm các quy định về nguyên tắc cơ bản đúng nghĩa là những tư tưởng chỉ đạo đối với việc xây dựng và thực hiện BLTTHS, tạo cơ sở cho việc hình thành những chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Nguyên tắc tố tụng hình sự chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, thể hiện bản chất của tố tụng hình sự và tính dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự, là cơ sở để xây dựng các nội dung trong Bộ luật.
Theo đó, BLHS năm 2015 đã bổ sung các nguyên tắc sau: nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13); nguyên tắc không ai bị kết án 02 lần vì một tội phạm (Điều 14); nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra (Điều 19); nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo (Điều 26).
Hai là, quy định cụ thể trình tự, thủ tục và các hoạt động tố tụng trong từng giai đoạn nhằm đấu tranh hiệu quả với tội phạm
BLTTHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đặt ra trong thực tiễn; xác lập đầy đủ cơ sở pháp lý để quá trình phát hiện, xử lý tội phạm được tiến hành chính xác, kịp thời, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển.
Ba là, thực hiện nghiêm túc yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân
BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp thành những quy định, yêu cầu cụ thể đối với: quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng; bổ sung các quyền và cơ chế bảo đảm quyền của những người tham gia tố tụng.
Đặc biệt là, bổ sung quyền của bị can được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu; bổ sung và quy định đầy đủ nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội; rút ngắn thời hạn tạm giam; quy định đầy đủ các cơ chế để người bị buộc tội thực hiện tốt quyền “tự bào chữa” và “nhờ người khác bào chữa”; bổ sung các quy định nhằm đề cao trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đồng thời, quy định nghiêm khắc các chế tài áp dụng nếu cơ quan tố tụng vi phạm quy định của luật.
Bốn là, phân định hợp lý thẩm quyền giữa các cơ quan tố tụng và giữa các cấp tố tụng
Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp và tháo gỡ những vướng mắc qua thực tiễn thi hành, BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung theo hướng: giảm số lượng vụ án do cơ quan tố tụng cấp trung ương thụ lý, để cấp này tập trung cho công tác chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra cấp dưới; mở rộng diện cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đối với lực lượng Kiểm ngư; bổ sung, tăng cường trách nhiệm của Viện Kiểm sát trong kiểm sát hoạt động tố tụng; phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa án nhằm tháo gỡ khó khăn cho cấp huyện.
Năm là, tăng quyền, tăng trách nhiệm cho các chức danh tư pháp
Thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và nhằm tháo gỡ bất cập trong thực tiễn, BLTTHS năm 2015 đã phân định một cách hợp lý thẩm quyền giữa Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng với người trực tiếp tiến hành tố tụng theo hướng: những thẩm quyền có tính chất quyết định việc “đóng, mở” một giai đoạn tố tụng, những thẩm quyền liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân giao cho Thủ trưởng cơ quan tố tụng quyết định; hầu hết những thẩm quyền có tính chất phát hiện hoặc làm sáng tỏ sự thật vụ án giao cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán trực tiếp quyết định.
Sáu là, bổ sung Chương Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Để cụ thể hóa các quy định liên quan đến bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự theo Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung một chương (Chương V) gồm 13 điều quy định về bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
Theo đó, bổ sung khái niệm người bào chữa; bổ sung người bị bắt thuộc đối tượng được bảo đảm quyền bào chữa; bổ sung Trợ giúp viên pháp lý có thể là người bào chữa trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý; bổ sung diện những người không được bào chữa; bổ sung các quyền, nghĩa vụ của người bào chữa; bổ sung các quy định liên quan về lựa chọn người bào chữa; chỉ định người bào chữa; thay đổi và từ chối người bào chữa; thủ tục đăng ký bào chữa; trách nhiệm thông báo cho người bào chữa; thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến bào chữa; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, kiến nghị khởi tố.
Bảy là, đổi mới chế định chứng cứ và chứng minh
BLTTHS năm 2015 đã có những đổi mới quan trọng khi quy định về chứng cứ và chứng minh, đó là: bổ sung cho người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, người bị buộc tội có quyền đưa ra chứng cứ; quy định cụ thể cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ; bổ sung và quy định cụ thể trách nhiệm, trình tự, thủ tục các cơ quan tố tụng tiếp nhận và đánh giá chứng cứ do những người tham gia tố tụng cung cấp; bổ sung vào hệ thống nguồn chứng cứ gồm: dữ liệu điện tử; kết quả định giá tài sản; quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu thập, phục hồi dữ liệu điện tử nhằm bảo đảm tính khách quan, tính nguyên trạng và tính có thể kiểm chứng của loại chứng cứ đặc thù này; bổ sung nguyên tắc loại trừ chứng cứ.
Tám là, hoàn thiện chế định giám định tư pháp
Nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, BLTTHS năm 2015 đã có những điều chỉnh quan trọng để hoàn thiện chế định giám định tư pháp, đó là: bổ sung những người có quyền yêu cầu giám định trên cơ sở giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng; xác lập cơ chế nhằm kiểm soát chặt chẽ quá trình trưng cầu và sử dụng kết quả giám định; bổ sung cơ chế nhằm giải quyết xung đột giữa các kết luận giám định.
Chín là, luật hóa các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Trước yêu cầu của Hiến pháp năm 2013: mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân phải do luật định đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu và xử lý nghiêm túc, thấu đáo vấn đề này. Trên cơ sở cân nhắc các điều kiện cụ thể của nước ta về mọi mặt, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, các cam kết quốc tế của Việt Nam, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung một chương mới để luật hóa biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Theo đó, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt bao gồm: ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử (Điều 223); các biện pháp này áp dụng trong quá trình tiến hành tố tụng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền và các tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 224); thẩm quyền áp dụng: chỉ Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên và được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn (Điều 225); thời hạn áp dụng không quá 2 tháng, trường hợp đặc biệt có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra (Điều 226); cho phép sử dụng làm chứng cứ đối với những thông tin, tài liệu thu thập từ biện pháp điều tra đặc biệt; đồng thời, quy định nghiêm ngặt việc sử dụng các thông tin, tài liệu nhằm bảo vệ bí mật riêng tư của các cá nhân, tổ chức (Điều 227).
Mười là, sửa đổi, bổ sung các thủ tục tố tụng nhằm đáp ứng những đổi mới của Bộ luật Hình sự năm 2015
Mối quan hệ giữa Bộ luật Hình sự và BLTTHS là mối quan hệ giữa luật nội dung và luật hình thức. Nội dung nào thì phải có hình thức tương ứng; hình thức phù hợp sẽ là điều kiện để đưa nội dung vào cuộc sống. Bộ luật Hình sự là đạo luật quy định về tội phạm và hình phạt, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về cách thức phát hiện và xử lý tội phạm.
Do đó, yêu cầu đặt ra đối với quá trình sửa đổi BLTTHS là phải phản ánh kịp thời những đổi mới trong Bộ luật Hình sự, từ đó quy định đầy đủ thủ tục tố tụng cho việc xử lý vấn đề mới, đưa chính sách hình sự nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Mười một, bảo đảm quá trình giải quyết vụ án hình sự phải có sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ
Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Quán triệt yêu cầu nêu trên của Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 đã có sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung.
Trước hết, bổ sung nguyên tắc kiểm tra, giám sát, kiểm soát trong tố tụng hình sự vào hệ thống các nguyên tắc cơ bản; quy định cụ thể việc giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự và trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc trả lời yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan này; quy định cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tố tụng, theo đó khâu sau có trách nhiệm giám sát kết quả của khâu trước, loại bỏ chứng cứ do khâu trước thu thập bằng các biện pháp trái luật; đồng thời, quá trình tiến hành tố tụng, khâu sau có trách nhiệm thông báo các kết quả giải quyết vụ án cho các giai đoạn tố tụng trước; quy định cụ thể, minh bạch các thủ tục tố tụng, bổ sung trách nhiệm và hình thức công khai các quyết định tố tụng nhằm tạo điều kiện để người dân dễ tiếp cận công lý và tăng khả năng giám sát của xã hội đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự.
5. Kết luận
Với hình thức trình bày lập bảng so sánh đối chiếu trực tiếp các điều luật tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự 2015 giúp người đọc nhận diện được ngay những điểm thay đổi của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 so với Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Tuy nhiên nếu có thêm phân tích sâu về những sửa đổi này thì cuốn sách sẽ thật tuyệt vời cho mỗi người đọc. Tuy vậy, với sự nhiệt tâm và cần mẫn của nhóm tác giả, bằng việc lập bảng đối chiếu chúng ta cũng đã nhận diện được chính xác và đầy đủ những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.