1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "So sánh, đối chiếu Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 - 2015" do tác giả Vũ Duy Khang biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách 

Sách So sánh, đối chiếu Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 - 2015 (Vũ Duy Khang)

So sánh, đối chiếu Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 - 2015

Tác giả: Vũ Duy Khang

Nhà xuất bản Hồng Đức

3. Tổng quan nội dung sách

Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25-11-2015,  thay thế cho Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2016.

Bộ luật Tố tụng dân sự là đạo luật quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam,việc ban hành Bộ luật đã góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Nhằm giúp bạn đọc So Sánh - Đối Chiếu Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2004 Và 2005, những người làm công tác pháp luật nói riêng thuận tiện trong việc nghiên cứu và áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự, tác giả Vũ Duy Khang biên soạn cuốn sách: "So sánh, đối chiếu Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 - 2015"

Bên cạnh nội dung so sánh, đối chiếu Bộ luật tố tụng dân sự, cuốn sách còn in nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đang còn hiệu lực thi hành nhằm giúp bạn đọc dễ dàng tra cứu và áp dụng khi cần thiết.

Tác giả biên soạn cuốn sách với hai phần chính như sau:

Phần thứ nhất. So sánh và đối chiếu Bộ luật tố tụng dân sự  năm 2004 và 2015

Ở phần này tác giả trình bày 2 cột tương ứng với 2 Bộ luật, sau đó trích dẫn từng điều luật tương ứng của 2 bộ luật trong bảng để bạn đọc dễ dàng nhận diện những điểm sửa đổi, bổ sung của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 so với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

Phần thứ hai. Các văn bản hướng dẫn thi hành luật tố tụng dân sự từ 2004 -2016.

Phần này tác giả trình bày toàn văn nhiều các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và một số văn bản liên quan đến hoạt động tố tụng dân sự đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm năm 2016.

Dưới đây là chia sẻ của Luật Minh Khuê một số quy định tại Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 để bạn đọc tham khảo:

Điều 1. Về việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội mà Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã bỏ hình phạt tử hình

1. Kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2015 (ngày công bố Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13), khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội cướp tài sản (Điều 133), tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm (Điều 157), tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 194), tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194), tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231), tội chống mệnh lệnh (Điều 316) và tội đầu hàng địch (Điều 322) Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12).

Trường hợp khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm, nếu xét thấy hành vi phạm tội là đặc biệt nghiêm trọng và theo quy định của Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12) phải xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất là tử hình thì không xử phạt tử hình mà xử phạt người phạm tội hình phạt tù chung thân.

2. Trường hợp hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 09 tháng 12 năm 2015 đối với người phạm tội mà Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã bỏ hình phạt tử hình và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thi hành án tử hình thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm báo cáo ngay Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.

Điều 2. Về việc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các Điều kiện quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 40 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13

1. Kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2015, người đã bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thi hành án tử hình mà thuộc một trong các trường hợp sau đây thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân:

a) Sau khi bị kết án, người bị kết án tử hình đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm;

b) Sau khi bị kết án, người bị kết án tử hình đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và lập công lớn.

2. “Chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ” là sau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ hoặc người bị kết án đã tích cực tác động để cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em và những người khác khắc phục hậu quả và những người này đã thực hiện việc nộp lại ít nhất ba phần tư giá trị tài sản mà người bị kết án đã tham ô, nhận hối lộ.

3. “Hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm” là sau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kết án chủ động cung cấp những tin tức, tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án (như: chỉ đúng nơi cất giấu vật chứng quan trọng giúp cơ quan chức năng thu hồi được vật chứng đó; khai báo và chỉ đúng nơi đồng phạm khác đang bỏ trốn; khai báo về tội phạm và người phạm tội mới liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án...). Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là “hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm” nhưng phải được các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất áp dụng.

4. “Lập công lớn” là sau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kết án đã giúp cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, truy bắt, Điều tra, xử lý tội phạm không liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác; có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là “lập công lớn” nhưng phải được các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất áp dụng.

5. Đối với người bị kết án tử hình thuộc trường hợp hướng dẫn tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm chủ trì, phối hợp với Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp rà soát, báo cáo ngay Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.

Điều 3. Về việc không xử lý hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12) quy định là tội phạm nhưng Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 không quy định là tội phạm

1. Kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2015, không xử lý hình sự đối với các trường hợp quy định tại Điểm d, Điểm đ Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 và những trường hợp sau đây:

a) Người thực hiện hành vi mà theo quy định của Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12) là tội phạm nhưng theo quy định của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 thì hành vi đó chưa cấu thành tội phạm do có bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm đó.

Ví dụ 1: Một người chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng đã được xóa án tích mà có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng hoặc thể tích dưới mức quy định tại một trong các Điểm từ Điểm b đến Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Ví dụ 2: Một người chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc, chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích mà có hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.

b) Người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm các tội trừ các tội danh quy định tại Khoản 2 Điều 14 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.

2. Đối với các trường hợp hướng dẫn tại Điểm a và Điểm b Khoản 1 Điều này, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12) miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

Những người đã chấp hành xong hình phạt, được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc hình phạt còn lại thì đương nhiên được xóa án tích.

4. Đánh giá bạn đọc

Tác giả đã lập bảng đối chiếu các điều của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004, việc lập bảng đối chiếu như vậy sẽ giúp bạn đọc dễ dàng nhận diện, tra cứu rút ra những thông tin bổ ích trong nghiên cứu cũng như thuận tiện trong áp dụng khi cần thiết. Cuốn sách cung cấp cho bạn đọc cùng một lúc rất nhiều các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự, đặc biệt cần thiết đối với bạn đọc là Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội thẩm, Kiểm sát viên, luật sư và các học viên tư pháp.

Cũng cần nói thêm rằng, nội dung cuốn sách được tác giả hệ thống hoàn toàn là quy định pháp luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm năm 2016. Theo thời gian, những văn bản này có thể sẽ được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế, do đó, trong quá trình sử dụng cuốn sách để tra cứu, bạn đọc lưu ý cần kiểm tra lại hiệu lực các quy định được dẫn chiếu để đảm bảo tìm đúng và áp dụng đúng quy định còn hiệu lực.

Ưu điểm của cuốn sách là cung cấp cho bạn đọc khá toàn diện các đầu văn bản pháp luật quy định, hướng dẫn về thủ tục tố tụng dân sự, song nhược điểm cũng chính nằm ở chỗ đó, khi các văn bản pháp luật được dẫn chiếu bị sửa đổi, thay thế thì giá trị tra cứu của cuốn sách đối với bạn đọc cũng sẽ giảm dần.

5. Kết luận

Cuốn sách "So sánh, đối chiếu Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 - 2015" do Vũ Duy Khang biên soạn tiết kiệm thời gian cho bạn đọc trong việc tra cứu, áp dụng trong học tập, nghiên cứu và công tác.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! 

Nếu bạn có khó khăn trong việc tra cứu hiệu lực văn bản hay quy định pháp luật trong lĩnh vực nào đó, hãy liên hệ tổng đài 1900.6162 của Luật Minh Khuê, chúng tôi sẽ hỗ trợ giải đáp chính xác và nhanh chóng nhất giúp bạn!