1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Một số nghiên cứu hiện đại về tòa án" được biên soạn bởi các tác giả gồm PGS.TS. Đỗ Minh Khôi,ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền,ThS. Phạm Thị Hương Thảo.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách tham khảo Một số nghiên cứu hiện đại về tòa án

Một số nghiên cứu hiện đại về tòa án

Tác giả  PGS.TS. Đỗ Minh Khôi,ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền,ThS. Phạm Thị Hương Thảo

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

 

3. Tổng quan nội dung sách

Tòa án được xem là hạt nhân của hệ thống tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Tòa án thực hiện hoạt động xét xử không dừng lại ở phán xét tính hợp pháp đối với hành vi của các chủ thể mà còn phán quyết tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật. Nghiên cứu về tòa án phải bao hàm cả hình thức pháp lý và nội dung pháp lý, không chỉ ở góc độ xem xét vị trí, vai trò của tòa án trong việc đảm bảo sự tối thượng của pháp luật mà còn xem xét cả nội dung pháp luật được đề cập. Trong quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể, tòa án quan tâm đến lợi ích của tất cả các bên liên quan bị ảnh hưởng bởi quyền lực mang tính cưỡng chế của hành pháp, đồng thời kiểm chứng tính dân chủ của lập pháp, từ đó cân bằng và kiểm soát các nhánh quyền lực nhà nước, thúc đẩy dân chủ và kiến tạo xã hội pháp quyền.

Tuy nhiên, trên thực tế, quyền lực của tư pháp nói chung và tòa án nói riêng được cho là yếu so với các nhánh quyền lực còn lại. Để xác lập vị trí, vai trò của tòa án trong việc đảm bảo tính thượng tôn pháp luật, cần xác định rõ quyền lực thực chất và sự tương tác của tòa án với các cơ quan, hệ thống khác trong bộ máy nhà n quan hệ tác động qua lại và ảnh hưởng của nó sống xã hội. Yêu cầu đặt ra ở đây chính là tính độc lập của tòa án phải được thể hiện trên hai diện: thể chế và năng lực chuyên môn.

Để góp phần đưa lại một góc nhìn khái quát về tòa tư pháp điển hình trong hệ thống dân luật và thông luật Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản xin giới thiệu cuốn sách "Một số nghiên cứu hiện đại về tòa án” của các tác giả PGS.TS. Đỗ Minh Khôi, ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền ThS. Phạm Thị Phương Thảo công tác tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ.

Cuốn sách được biên soạn với cấu truc chương mục như sau:

Chương 1. Tòa án là gì?

1. Khái niệm và cách tiếp cận về tòa án

2. Các yêu cầu của tòa án

Chương 2. Nhiệm vụ, chức năng, vai trò của tòa án

1. Nhiệm vụ của tòa án

2. Chức năng của Tòa án

3. Vai trò của tòa án

Chương 3. Địa vị của Tòa án

1. Tòa án với lập pháp

2. Tòa án với hành pháp

3. Thẩm phán trong giới luật gia, học thuật và xã hội

4. Vai trò của tòa án trong xã hội

Chương 4. Độc lập của tòa án

1. Độc lập và trung lập là gì?

2. Tại sao tòa án phải độc lập?

3. Biểu hiện của sự độc lập của tòa án

4. Tiêu chí, căn cứ đo lường sự độc lập của tòa án

Chương 5. Giải thích pháp luật của tòa án

1. Giải thích pháp luật là gì?

2. Tại sao tòa án phải giải thích pháp luật?

3. Mục đích giải thích pháp luật của tòa án

4. Phương pháp giải thích pháp luật của tòa án

Chương 6. Bảo hiến và kiểm duyệt tư pháp

1. Kiểm duyệt tư pháp là gì?

2. Tiếp cận về kiểm duyệt tư pháp

3. Nhu cầu kiểm duyệt tư pháp

4. Căn cứ kiểm duyệt tư pháp

5. Mô hình kiểm hiến và kiểm duyệt tư pháp

Chương 7. Tổ chức và vận hành của tòa án

1. Tổ chức tòa án

2. Hoạt động của tòa án

3. Căn cứ thiết kế và vận hành tòa án

Chương 8. Xu hướng phát triển của tòa án hiện đại

1. Sự mở rộng vai trò chính trị của tư pháp và những yếu tố ảnh hưởng

2. Độc lập và trách nhiệm của tư pháp

3. Thay đổi vai trò của tòa án hiện đại

4. Vai trò giải thích pháp luật của tòa án và xu hướng phát triển

 

4. Đánh giá bạn đọc

Với bố cục rõ ràng, đơn giản cùng với tinh thần trách nhiệm trong việc nghiên cứu, các tác giả đã biên soạn một cách công phu, phân tích, tổng hợp, so sánh về hệ thống tòa án một số nước trên thế giới, đem lại những góc nhìn đa chiều cho bạn đọc về thiết chế tòa án.

Cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách Một số nghiên cứu hiện đại về tòa án".

Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây một số nội dung phân tích về giải thích pháp luật và giá trị pháp lý của án lệ trong hoạt động giải thích pháp luật để bạn đọc tham khảo:

Thuật ngữ “giải thích pháp luật” ở Việt Nam lần đầu tiên được đề cập trong Hiến pháp 1959, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quy định pháp lý nào diễn giải, hoặc đưa ra khái niệm về giải thích pháp luật.

Hiến pháp 2013 quy định việc “giải thích pháp luật” tại khoản 2, Điều 74 về cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật chỉ có Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), hình thức sản phẩm giải thích là Nghị quyết. UBTVQH chỉ giải thích về Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Điều ước quốc tế. Đây là mô hình được xây dựng cho chủ thể giải thích pháp luật thuộc hệ thống cơ quan lập pháp. Với mô hình này, UBTVQH giải thích pháp luật trong khuôn khổ lập pháp nên khó thực hiện được thường xuyên và không đáp ứng được kịp thời nhu cầu của giải thích pháp luật.

Tuy nhiên, bằng thực tế hoạt động của mình, các cơ quan pháp luật nhà nước Việt Nam đều tham gia quá trình vào việc giải thích pháp luật, ví dụ như hoạt động ban hành các Nghị định quy định chi tiết các quy định của Luật của Chính phủ, trong đó có thể đưa ra các định nghĩa về một số thuật ngữ mà Luật chưa giải thích chi tiết.

Tương tự, theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tòa án không có thẩm quyền giải thích pháp luật. Tuy nhiên, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24/11/2014 đã ngầm trao cho Tòa án quyền giải thích pháp luật thông qua quy định “(Tòa án nhân dân tối cao) tổng kết thực tiễn xét xử của các tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử” và “Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ lựa chọn Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án quyết định pháp luật đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu và áp dụng trong xét xử”. Thực tế,  trong thời gian qua, Tòa án đã thực hiện việc giải thích pháp luật thông qua hoạt động diễn giải, làm rõ các quy định của pháp luật bằng các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền, thể hiện rõ nhất trong các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và 10 án lệ được Chánh án TANDTC ban hành trong Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/04/2016 về việc công bố án lệ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016.

Giá trị pháp lý của án lệ trong hoạt động giải thích pháp luật

Trên thực tế, vì các nhà làm luật không thể dự liệu hết được mọi trường hợp có thể xảy ra theo thời gian, nhất là trong tương lai, vì vậy, có những quy định nhà làm luật quy định có tính chất chung chung, nhiều nghĩa, bên cạnh đó, nhu cầu giải thích pháp luật là rất lớn. Án lệ là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích pháp luật trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.

Theo Từ điển Black’s Law thì, án lệ (precedent) có hai nghĩa:

“Một là sự làm luật bởi toà án trong việc nhận thức và áp dụng những quy định mới trong khi thi hành công lý. Hai là một vụ việc đã được quyết định mà cung cấp cơ sở để quyết định cho những vụ việc sau liên quan đến các sự kiện hoặc vấn đề tương tự.

Trong pháp luật, án lệ là một vụ việc đã được xét xử hoặc quyết định của toà án được xem như sự cung cấp quy định hoặc quyền lực cho quyết định của một vụ việc giống hoặc tương tự xảy ra về sau, hoặc cho một vấn đề tương tự của pháp luật, hoặc khi nếu các sự kiện là khác nhau thì nguyên tắc chi phối vụ việc đầu tiên có thể áp dụng được cho các sự kiện khác nhau chút ít. 

Một án lệ là một quyết định của toà án chứa đựng trong nó một nguyên tắc. Nguyên lý cơ bản giống như mẫu mà phần có căn cứ đích xác của nó thường được gọi là nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể. Một quyết định cụ thể là bắt buộc đối với các bên, nhưng nó là bản tóm tắt của nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể mà chỉ có nó có hiệu lực pháp luật. 

Cũng có thể nói một cách khái quát là, một vụ việc trở thành án lệ vì quy định chung như vậy là cần thiết đối với quyết định thực tế có thể được đưa ra là sự biến dạng trong những trường hợp phụ.

Thường cũng có thể chấp nhận, tôn trọng một án lệ không phải bởi nó bao quát một logic ổn định mà bởi từ các phần của nó có thể nảy sinh ra ý tưởng về mẫu mới của quyết định”.

Tương tự, pháp luật Việt Nam cũng quy định án lệ phải đáp ứng được các tiêu chí sau đây:

“1. Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể;

2. Có tính chuẩn mực;

3. Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.”

Qua đó ta thấy giá trị giải thích pháp luật của án lệ là án lệ đã đề cập đến các vụ việc đã xảy ra trong thực tế, chứ không phải là những giả thuyết có tính lý luận về những tình huống có thể xảy ra trong tương lai, nên đã góp phần giải thích, bổ sung những thiếu sót, những lỗ hổng của pháp luật thành văn và khắc phục tình trạng thiếu pháp luật, tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật dễ dàng, thuận lợi và thống nhất.

Thông thường, án lệ sẽ có ba loại: Án lệ bắt buộc, Án lệ để giải thích và Án lệ gốc. Từ điển Black’s Law định nghĩa:

“Án lệ bắt buộc là án lệ mà toà án bắt buộc phải tuân theo, ví dụ, toà án cấp thấp hơn bị giới hạn bởi một cách áp dụng của một toà án cấp cao hơn trong một vụ xét xử tương tự.

Án lệ để giải thích là án lệ chỉ có thể được áp dụng cho một quy định pháp luật hiện đã có rồi.

Án lệ gốc là án lệ tạo ra và áp dụng một quy định mới của pháp luật. Án lệ có sức thuyết phục là một án lệ mà toà án có thể hoặc là tuân theo hoặc là từ chối, nhưng điều khoản của nó phải được tôn trọng và cân nhắc cẩn thận”.

Do đó, mức độ linh động trong việc áp dụng án lệ là khác nhau, việc này khiến cho pháp luật được giải thích một cách linh hoạt, không bị cứng nhắc.