1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách tham khảo "Vấn đề pháp trị trong cải cách giám sát" do Giáo sư Tần Tiền Hồng - nhà khoa học nổi tiếng về công tác cải cách giám sát, công tác tại Học viện Pháp luật thuộc Đại học Vũ Hán biên soạn, được dịch bởi Phó Đức Dương, Nguyễn Trung Đức, Phạm Ngọc Hàm, Ngô Thị Mận.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sach tham khảo Vấn đề pháp trị trong cải cách giám sát

Vấn đề pháp trị trong cải cách giám sát

Tác giả: Giáo sư Tần Tiền Hồng

Người dịch: Phó Đức Dương, Nguyễn Trung Đức, Phạm Ngọc Hàm, Ngô Thị Mận

3. Tổng quan nội dung sách

Vấn đề pháp trị trong cải cách giám sát là công trình nghiên cứu công phu của Giáo sư Tần Tiền Hồng - nhà khoa học nổi tiếng về công tác cải cách giám sát, công tác tại Học viện Pháp luật thuộc Đại học Vũ Hán. Sách được Nhà xuất bản Dịch Lâm thuộc Tập đoàn Xuất bản - Truyền thông Phượng Hoàng, Giang Tô, Trung Quốc xuất bản tháng 6/2020, là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà nghiên cứu chuyên ngành luật cũng như đông đảo bạn đọc quan tâm đến vấn đề này.

Nội dung cuốn sách trình bày một cách toàn diện chế độ giám sát cũng như vấn đề xây dựng pháp luật Trung Quốc về giám sát từ hai góc độ lý luận và thực tiễn, đưa ra các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện thể chế giám sát của Trung Quốc.

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Phần 1. Tìm hiểu pháp lý trong cải cách giám sát

Chương 1. Một số vấn đề về cải cách thể chế giám sát nhà nước trong quá trình xây dựng hiến pháp

1. Xây dựng hiến pháp về tính chất của cơ quan giám sát

2. Xây dựng hiến pháp về vị trí của cơ quan giám sát

3. Xây dựng hiến pháp về mục tiêu của cơ quan giám sát

4. Xây dựng hiến pháp về kết cấu của cơ quan giám sát

5. Logic, phương pháp và giới hạn của cải cách thể chế giám sát nhà nước

6. Cải cách thể chế giám sát nhà nước và sự chuyển đổi về hướng nghiên cứu của ngành hiến pháp học Trung Quốc

Chương 2. Nghiên cứu về biện pháp tạm giữ của ủy ban giám sát

1. Giám sát: Việc phê duyệt và lập hồ sơ báo cáo về biện pháp tạm giữ

2. Thực thi: Thời hạn và quyền hạn của biện pháp tạm giữ

3. Bảo vệ: Biện hộ và hỗ trợ trong biện pháp tạm giữ

4. Gắn kết: Gắn kết giữa biện pháp tạm giữu và tư pháp

5. Kết luận

Phần 2. GIám sát của nhà nước trong cơ cấu hiến pháp

Chương 3. Bàn về cơ quan giám sát trong hiến pháp Trung Quốc, chú trọng đến mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước

Chương 4. Bố trí và định vị tối ưu quyền kiểm sát trong bối cảnh cải cách thể chế giám sát nhà nước

Chương 5. Nghiên cứu địa vị pháp lý của cơ quan đại diện ủy ban giám sát

Chương 6. Giám sát tòa án trong bối cảnh cải cách thể chế giám sát nhà nước

Chương 7. Chức năng. vị trí và pháp lý hóa kiến nghị giám sát của cơ quan giám sát

Phần 3. Thực thi luật giám sát và các nguyên tắc pháp chế cụ thể

Chương 8. Một số khó khăn trong việc tìm hiểu và ứng dụng luật giám sát

Chương 9. Tại sao đại biểu đại hội đại biểu nhân dân không phải là đối tượng giám sát?

Chương 10. Cơ quan giám sát cần thực hiện tự giám sát như thế nào theo quy định của pháp luật

Phần 4. Pháp luật về giám sát và hoàn thiện hệ thống

Chương 11. Bảy cặp quan hệ cần xử lý tốt trong xây dựng luật xử lý vi phạm công vụ hành chính

Chương 12. Bàn về giám sát theo pháp luật và lập pháp giám sát

Phần 5. Xây dựng hệ thống luật giám sát

Chương 13. Quan tâm pháp luật trong cải cách thể chế giám sát nhà nước : quá khứ và tương lai

Chương 14. Bàn về phương pháp nghiên cứu trong luật học giám sát

Chương 15. Một số vấn đề trong xây dựng hệ thống nghiên cứu về luật học giám sát

4. Đánh giá bạn đọc

Ở góc độ lý luận, cuốn sách tập trung vào bối cảnh của Trung Quốc, lược khảo một cách có hệ thống nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển của khái niệm giám sát, tổng kết cơ sở lý luận, chỉ rõ đối tượng nghiên cứu và các phạm trù cơ bản của pháp luật giám sát, nhằm hiện thực hóa việc xây dựng hệ thống lý luận về pháp luật giám sát một cách khoa học.

Ở góc độ thực tiễn, cuốn sách bắt đầu từ thực tế của Trung Quốc, tập trung vào các vấn đề mấu chốt trong cải cách thể chế giám sát của Trung Quốc như sự phối hợp, gắn kết giữa quyền giám sát và quyền kiểm sát, cũng như vị trí của các cơ quan giám sát, từ đó đưa ra các đề xuất cải cách thể chế giám sát, gợi ý dịnh hướng của cải cách thể chế giám sát trong tương lai.

Cuốn sách có giá trị tham khảo không chỉ về mặt khoa học pháp lý mà còn có giá trị thực tiễn trong việc nghiên cứu về xây dựng và cải cách giám sát trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.

5. Kết luận

Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà nghiên cứu ngành luật nói riêng và bạn đọc quan tâm tới vấn đề này nói chung.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Vấn đề pháp trị trong cải cách giám sát".

Nguồn gốc chế độ giám sát ở Trung Quốc

Về thực tiễn các chế độ giám sát, nếu truy nguồn gốc thì đều có lịch sử rất lâu đời ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Lịch sử chế độ giám sát tại Trung Quốc bắt đầu từ thời nhà Tần, các triều đại sau này đều kế thừa thể chế của thời Tần. Nhà Tần là triều đại đầu tiên thiết lập tam công, tức là tể tướng thống lĩnh bách quan, thái úy phụ trách quân sự, ngự sử giám sát quan lại. Sau thời nhà Tần, chế độ giám sát phát triển theo hai hệ thống, một là "chế độ cấp gián", hai là "chế độ ngự sử". Chế độ cấp gián là chỉ chức quan chuyên tiến hành can gián các chính sách và đạo đức của hoàng đế. Chức danh này sau còn được gọi "gián quan" hay "ngôn quan", sau khi thời Tần - Hán thiết lập chức danh "Cấp sự trung" và "Gián nghị đại phu", các triều đại sau đó đều học theo. Ví dụ như chức danh "Cấp sự trung" được duy trì đến thời nhà Thanh, chức danh "Gián nghị đại phu" được sử dụng đến thời nhà Tống. Mục đích của việc thiết lập "chế độ ngự sử" là để giám sát việc bách quan có phạm luật, tắc trách hay không, nói cách khác, đây là chức quan giúp hoàng đế chỉnh đốn kỷ cương, chấn chỉnh quan trường, kiểm tra sai sót, nhằm đạt được mục tiêu củng cố hoàng quyền. Bắt đầu tử thời nhà tần, đã thiết lập các chức "Ngự sử đại phu", "Ngự sử trung thừa", "Thị ngự sử" ở cấp trung ướng, và chức "Giám ngự sử" tại địa phương. Thời kỳ Đường - Tống, chế độ này không thay đổi mà chỉ điều chỉnh về tên gọi. Đến thời kỳ Minh - Thanh, về cơ bản vẫn duy trì chế độ cụ. Cho đến tận sau thời vua Càn Long, "gián quan" và "giám quan" mới hợp nhất, chức danh "Ngự sử" được sử dụng cho đến tận cuối đời nhà Thanh và giai đoạn đầu khi mới thành lập chính quyền Trung hoa dân quốc.

...

Vài nét về Ủy ban Giám sát Nhà nước nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 

Uỷ ban Giám sát Nhà nước có cấp bậc ngang hàng với Toà án Nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, là đơn vị cấp phó quốc gia. Uỷ ban Giám sát Nhà nước và Uỷ ban Kiểm tra Kỉ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc có cùng một sở quan để làm việc công, thuật ngữ Hán - Việt trong chính trị Trung Quốc gọi nó là hợp thự bạn công.

Uỷ ban Giám sát Nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc sản sinh, phụ trách công tác giám sát cả nước Trung Quốc; giữ trách nhiệm và tiếp nhận việc coi sóc xem xét trước Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Uỷ ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc.

Nhiệm kì mỗi khoá của Uỷ ban Giám sát Nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tương đồng với nhiệm kì mỗi khoá của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Chủ nhiệm Uỷ ban Giám sát Nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không được nhậm chức liên tục vượt quá hai khoá.

Uỷ ban Giám sát Nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa do Chủ nhiệm, một số người Phó Chủ nhiệm, một số người Uỷ viên hợp thành, Chủ nhiệm do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc tuyển cử ra, Phó Chủ nhiệm và Uỷ viên do Chủ nhiệm Uỷ ban Giám sát Nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đề xuất bổ nhiệm và miễn nhiệm lên Uỷ ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc.

Ngày 11 tháng 3 năm 2018, Uỷ ban Giám sát Nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa do Hội nghị lần thứ nhất Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khoá 13 thông qua.

Ủy ban Giám sát Nhà nước gồm Chủ nhiệm (do Quốc hội bầu), một số Phó Chủ nhiệm và Ủy viên (do Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm). Ủy ban Giám sát có ở 04 cấp tương tự như Ủy ban Kiểm tra kỷ luật, do Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp bầu. Ủy ban Giám sát Nhà nước do Quốc hội thành lập được ví như một cơ quan “siêu quyền lực” xếp ngang hàng với Quốc vụ viện, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và là đầu mối tập trung thống nhất công tác PCTN của Trung Quốc. Về hình thức, Ủy ban này do Quốc hội bầu; nhưng bản chất nó được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc mà trực tiếp là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình. Ủy ban này có thẩm quyền giám sát việc chấp hành kỷ luật hành chính của công chức trong các cơ quan Đảng, cơ quan của Quốc hội, cơ quan hành chính, tư pháp, doanh nghiệp nhà nước.

Uỷ ban Giám sát Nhà nước là cơ cấu công tác chống tham nhũng, đi sâu vào một mục đích trọng yếu là cải cách thể chế giám sát nhà nước, chính là tăng cường lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc về công tác chống tham nhũng. Cấp cho Uỷ ban Giám sát Nhà nước một địa vị trong Hiến pháp, đồng thời xác định rõ vị trí tính chất và chức trách chức năng của nó, thật hiện giám sát toàn bộ sự che đậy, ẩn tàng với nhân viên công chức mà sở hữu sử dụng quyền lực công, cần phải lấy việc thúc đẩy đấu tranh chống tham nhũng mà đi sâu vào phát triển, tiến lên một bước gia tăng lòng tin và tin cậy của quần chúng nhân dân về Đảng Cộng sản Trung Quốc, vun trồng dày đặc cơ sở chính trị do Đảng Cộng sản Trung Quốc chấp chính.