1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền" do TS. Nguyễn Văn Tuân biên soạn. 

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền

Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền

Tác giả: TS. Nguyễn Văn Tuân biên soạn

Nhà xuất bản Tư pháp

 

3. Tổng quan nội dung sách

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc nâng cao năng lực, hiệu quả của hoạt động tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhà nước đã từng bước thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, bổ trợ tư pháp trong đó có thể chế về luật sư và hành nghề luật sư. Cuốn sách “Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền” trình bày khái quát về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền. Trên cơ sở phân tích thực trạng các quy định của Luật Luật sư năm 2006 (được sửa đổi bổ sung năm 2012), tác giả đề xuất nhiều giải pháp góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

Mở đầu cuốn sách, trình bày những vấn đề chung về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về nhà nước pháp quyền và vai trò của luật sư trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đồng thời tác giả nêu đặc điểm, trách nhiệm và đạo đức nghề luật sư, thể chế, quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư từ năm 1945 cho đến nay.

Đến với chương 2 “Thực trạng pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư”, tác giả làm sáng tỏ các quy định liên quan đến tiêu chuẩn, đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề luật sư; các dịch vụ pháp lý, phạm vi hình thức, thù lao, chi phí hành nghề luật sư; việc hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư; tổ chức xã hội - nghề nghiệp, xử lý kỷ luật và xử lý vi phạm hành chính đối với luật sư cũng được tác giả phân tích khá chi tiết trong phần cuối chương.

Từ nghiên cứu thực trạng pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư, tác giả chỉ ra những hạn chế, tồn tại và bất cập về: Khái niệm luật sư, thẩm quyền công nhận luật sư và quyền hành nghề luật sư; phạm vi và hình thức hành nghề luật sư, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước và của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; sự phân định trong mối quan hệ giữa xử lý kỷ luật và xử lý vi phạm pháp luật đối với luật sư; pháp luật về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Qua nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài, tác giả gợi mở giải pháp nhằm khắc phục những bất cập kể trên, đồng thời góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và phát huy trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư. Khép lại cuốn sách là những kiến nghị đề xuất của tác giả về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho Luật Luật sư năm 2006 (được sửa đổi bổ sung năm 2012).

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Chương 1. Những vấn đề chung về luật sư và hành nghề luật sự trong nhà nước pháp quyền

1. Nhận thức về Nhà nước pháp quyền

2. Vai trò của luật sư trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

3. Đặc điểm, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp luật sư

4. Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư

5. Khái quát pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư

Chương 2. Thực trạng pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư

1. Luật sư

Tiêu chuẩn luật sư

Đào tạo và miễn đào tạo nghề luật sư

Tập sự và miễn tập sự hành nghề luật sư

Chứng chỉ hành nghề luật sư

Gia nhập Đoàn luật sư

Quyền và nghĩa vụ của luật sư

2. Hành nghề luật sư

Dịch vụ pháp lý và phạm vi hành nghề luật sư

Hình thức hành nghề luật sư

Thù lao và chi phí

Hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam

3. Quản lý về luật sư và hành nghề luật sư

Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư

1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về luật sư hành nghề luật sư

2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư,

 

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách đã hệ thống một cách toàn diện các khía cạnh về luật sư và hành nghề luật sư: lý luận, thực tiễn và đề xuất hoàn thiện vấn đề pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 

Cuốn sách "Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền" là tài liệu tham khảo hữu ích cho luật sư, nhà nghiên cứu, sinh viên và bạn đọc quan tâm đến thể chế về luật sư và hành nghề luật sư.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền".

Luật Minh Khuê trích dân dưới đây một số quy tắc ứng xử của Luật sư theo quy định tại Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ để bạn đọc tham khảo:

Quy tắc 10. Tiếp nhận vụ việc của khách hàng

10.1. Khi được khách hàng yêu cầu tiếp nhận vụ việc, luật sư cần nhanh chóng trả lời cho khách hàng biết về việc có tiếp nhận vụ việc hay không.

10.2. Luật sư không phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, tuổi tác, sức khỏe, khuyết tật, tình trạng tài sản của khách hàng khi tiếp nhận vụ việc. Trường hợp biết khách hàng thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí thì luật sư thông báo cho họ biết.

10.3. Luật sư chỉ nhận vụ việc theo điều kiện, khả năng chuyên môn của mình và thực hiện vụ việc trong phạm vi yêu cầu hợp pháp của khách hàng.

10.4. Luật sư có nghĩa vụ giải thích cho khách hàng biết về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong quan hệ với luật sư; về tính hợp pháp trong yêu cầu của khách hàng; những khó khăn, thuận lợi có thể lường trước được trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý; quyền khiếu nại và thủ tục giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với luật sư.

10.5. Khi nhận vụ việc của khách hàng, luật sư phải ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trong hợp đồng dịch vụ pháp lý phải xác định rõ yêu cầu của khách hàng, mức thù lao và những nội dung chính khác mà hợp đồng dịch vụ pháp lý phải có theo quy định của pháp luật.

Quy tắc 11. Những trường hợp luật sư phải từ chối khi tiếp nhận vụ việc của khách hàng

11.1. Khách hàng thông qua người khác yêu cầu luật sư mà luật sư biết rõ người này có biểu hiện lợi dụng tư cách đại diện cho khách hàng để mưu cầu lợi ích không chính đáng làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của khách hàng.

11.2. Khách hàng yêu cầu dịch vụ pháp lý của luật sư mà luật sư biết rõ khách hàng có ý định lợi dụng dịch vụ đó cho mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc khách hàng không tự nguyện mà bị phụ thuộc theo yêu cầu của người khác.

11.3. Có căn cứ rõ ràng xác định khách hàng đã cung cấp chúng cứ giả hoặc yêu cầu của khách hàng trái đạo đức, vi phạm điều cấm của pháp luật.

11.4. Vụ việc của khách hàng có xung đột về lợi ích theo quy định tại Quy tắc 15.

Quy tắc 21. Những việc luật sư không được làm trong quan hệ với đồng nghiệp

21.1. Có lời nói, hành vi vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của đồng nghiệp hoặc gây áp lực, đe dọa đồng nghiệp.

21.2. Thông đồng, đưa ra đề nghị với luật sư của khách hàng có quyền lợi đối lập với khách hàng của mình để cùng mưu cầu lợi ích cá nhân.

21.3. Tiếp xúc, trao đổi riêng với khách hàng đối lập về quyền lợi với khách hàng của mình để giải quyết vụ việc khi biết khách hàng đó có luật sư mà không thông báo cho luật sư đồng nghiệp bảo vệ quyền lợi hoặc luật sư đại diện cho khách hàng đó biết.

21.4. Thuê, trả tiền môi giới khách hàng hoặc môi giới khách hàng cho đồng nghiệp để nhận tiền hoa hồng.

21.5. Thực hiện các hành vi nhằm mục đích giành giật khách hàng như:

21.5.1. So sánh năng lực nghề nghiệp, phân biệt vùng, miền hoạt động hành nghề của luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư này với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư khác;

21.5.2. Xúi giục khách hàng từ chối đồng nghiệp để nhận vụ việc về cho mình hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo luật sư đồng nghiệp;

21.5.3. Trực tiếp hoặc sử dụng các nhân viên của mình hoặc người khác làm người lôi kéo, dụ dỗ khách hàng, trước trụ sở các cơ quan tiến hành tố tụng, trại tạm giam, cơ quan nhà nước và các tổ chức khác.

21.6. Áp đặt hoặc cố tình chi phối làm ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan trong hành nghề của đồng nghiệp có quan hệ phụ thuộc với luật sư như quan hệ thầy - trò, cấp trên - cấp dưới, huyết thống, thân thuộc.

21.7. Có hành vi tạo thành phe, nhóm giữa các luật sư để cô lập đồng nghiệp trong quá trình hành nghề.

21.8. Thực hiện việc liên kết, liên danh, thành lập nhóm luật sư hoạt động trái với quy định của pháp luật về luật sư, Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Bộ Quy tắc đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư.

Quy tắc 22. Ứng xử của luật sư trong tổ chức hành nghề luật sư

22.1. Luật sư tôn trọng, cư xử đúng mực với đồng nghiệp, nhân viên trong tổ chức hành nghề luật sư.

22.2. Luật sư trong tổ chức hành nghề luật sư có biện pháp hợp lý trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình để đảm bảo tổ chức hành nghề luật sư, các thành viên trong tổ chức tuân thủ Bộ quy tắc; chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm trong tổ chức hành nghề luật sư nếu:

22.2.1. Yêu cầu thực hiện hành vi vi phạm hoặc đồng ý với hành vi vi phạm đã xảy ra;

22.2.2. Biết hành vi vi phạm đã xảy ra trong khi có thể tránh được hoặc giảm nhẹ hậu quả nhưng đã không có biện pháp khắc phục.

4.1 Cuốn sách Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền có giá bao nhiêu?

Cuốn sách Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền có giá bìa là 120.000 đồng.

 

4.2 Cuốn sách Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền xuất bản năm nào?

Cuốn sách Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong nhà nước pháp quyền xuất bản năm 2021.