1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam hiện nay" do TS. Vũ Thị Mỹ Hằng biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam hiện nay

Thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam hiện nay

Tác giả: TS. Vũ Thị Mỹ Hằng 

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

3. Tổng quan nội dung sách

Từ nhiều năm nay, giám sát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là một trong những vấn đề thời sự của khoa học chính trị, thu hút sự quan tâm của xã hội, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động chính trị. Trong các công trình nghiên cứu hiện đại, vấn đề giám sát quyền lực được quan tâm từ các chủ thể công quyền lẫn các chủ thể xã hội dựa trên căn cứ quyền lực thuộc về nhân dân. Trên thế giới, cách thức tổ chức và thực thi quyền lực của người dân phụ thuộc vào thể chế chính trị, trình độ dân trí, văn hóa truyền thống, tập tục... với những đặc thù riêng; việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về cách thức tổ chức, kiểm soát và giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội là một vấn đề hết sức cần thiết nhằm đề ra phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát quyền lực nhà nước của quốc hội nước ta.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới kiểm soát quyền lực nhà nước và giám sát quyền lực nhà nước của Quốc Hội Việt Nam. Nhằm làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo nghiên cứu về giám sát quyền lực của Quốc Hội Việt Nam, TS. Vũ Thị Mỹ Hằng biên soạn cuốn sách "Thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam hiện nay".
Cuốn sách trình bày cơ sở lý luận và pháp lý về thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam; thực trạng hoạt động giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam; một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam.
Nội dung chính của cuốn sách gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam;
Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam;
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam.

4. Đánh giá bạn đọc

Giám sát của Quốc hội là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Chức năng giám sát của Quốc hội giữ một vai trò quan trọng. Trong những năm gần đây, hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam liên tục được đẩy mạnh, chất lượng, hiệu lực được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Cuốn sách đã trình bày và giới thiệu tới bạn đọc khá toàn diện về chức năng giám sát của Quốc hội Việt Nam từ lý luận, pháp lý cho tới thực trạng giám sát, trên cơ sở thực tiễn, tác giả đã đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam.

Cuốn sách Thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam hiện nay là tài liệu tham khảo hữu ích, có giá trị về khoa học pháp lý và thực tiễn đối với bạn đọc.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách Thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam hiện nay.

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây nội dung, phương pháp và hình thức giám sát của Quốc hội đối với việc thực thi công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước  để bạn đọc tham khảo:

Nội dung giám sát của Quốc hội đối với việc thực thi công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước

Nội dung giám sát của Quốc hội đối với việc thực thi công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước gồm: (i) Theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp; (ii) Theo dõi, xem xét, đánh giá việc xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp; (iii) Theo dõi, xem xét, đánh giá vấn đề tuân theo Hiến pháp và pháp luật của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.

Giám sát của Quốc hội bao gồm giám sát tối cao và giám sát chuyên đề của Quốc hội, giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội. Giám sát tối cao là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giám sát tối cao được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội. Giám sát chuyên đề là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá vấn đề hoặc hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật.

Quốc hội giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; giám sát tối cao hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ; giám sát tối cao văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; giám sát tối cao nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; giám sát nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giúp Quốc hội tổ chức thực hiện quyền giám sát tối cao theo sự phân công của Quốc hội.

Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; giám sát nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thuộc lĩnh vực Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban phụ trách; giúp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn và tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện nhiệm vụ giám sát tại địa phương; tham gia giám sát với Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tại địa phương.

Đại biểu Quốc hội chất vấn Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát văn bản quy phạm pháp luật, việc thi hành pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tại các bộ, ngành, địa phương khi có yêu cầu .
Nội dung giám sát là những nội dung phù hợp với tình hình thực tế, đề cập đến những vấn đề thực sự bức xúc trong đời sống xã hội, được cử tri và dư luận cả nước rất quan tâm.

Phương pháp giám sát của Quốc hội đối với việc thực thi công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước

Phương pháp giám sát của Quốc hội đối với việc thực thi công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước là hệ thống các cách thức mà Quốc hội sử dụng để nghiên cứu, nhìn nhận, theo dõi, xem xét, đánh giá việc thực thi công vụ của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; quyết định các vấn đề của Trung ương và địa phương, trên cơ sở xem xét báo cáo công tác của Chính phủ; báo cáo của Ủy ban lâm thời do Quốc hội thành lập để điều tra về một vấn đề nhất định; báo cáo giám sát chuyên đề; báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kiến nghị giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn; kết quả thực hiện các nghị quyết, kiến nghị giám sát; kết quả lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; kết quả hoạt động giải trình tại các cơ quan của Quốc hội.

Các phương pháp giám sát của Quốc hội đối với việc thực thi công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước có thể là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, so sánh thực nghiệm, thống kê, phân tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát, nghiên cứu điển hình, phỏng vấn, xin ý kiến chuyên gia… trong quá trình theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; quyết định các vấn đề của Trung ương và địa phương. 

Hình thức giám sát của Quốc hội đối với việc thực thi công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước

Hình thức giám sát của Quốc hội đối với việc thực thi công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước gồm 04 nhóm: 

Một là: Xem xét (i) báo cáo công tác của Chính phủ; (ii) báo cáo của Ủy ban lâm thời do Quốc hội thành lập để điều tra về một vấn đề nhất định; (iii) báo cáo giám sát chuyên đề; (iv) báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kiến nghị giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. 

Hai là: Xem xét (i) văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; (ii) việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn ; (iii) việc thực hiện các nghị quyết, kiến nghị giám sát. 

Ba là: Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. 

Bốn là: Điều hòa hoạt động giải trình tại các cơ quan của Quốc hội.

Nguồn: Trích bài viết trên trang thông tin điện tử của Hội đồng lý luận trung ương.