1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Sách tình huống - Bình luận bản án Luật Hôn nhân và gia đình" do tập thể tác giả là giảng viên tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh biên soạn, chủ biên bởi TS. Lê Vĩnh Châu.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Luật hôn nhân và gia đình ( Sách tình huống - Bình luận bản án)

Sách tình huống - Bình luận bản án Luật Hôn nhân và gia đình

Tác giả: TS. Lê Vĩnh Châu (chủ biên)

Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam

3. Tổng quan nội dung sách

Pháp luật Hôn nhân và gia đình là một mảng pháp lý cơ bản, thông dụng trong đời sống hàng ngày. Các trường đại học luật, khoa luật đều đưa nội dung pháp luật hôn nhân và gia đình vào chương trình đào tạo cử nhân luật. 

Để công tác giảng dạy và học tập các môn học về pháp luật hôn nhân và gia đình hiệu quả hơn nữa, bên cạnh Giáo trình và hệ thống văn bản pháp lý, người học thật sự cần tới những tài liệu mang tính thực tiễn, chia sẻ những tình huống, đưa ra phân tích, đánh giá để người học ngoài tích lũy được kiến thức pháp lý còn tích lũy thêm kỹ năng tư duy, lập luận và phản biện. Với chủ trương đào tạo những thế hệ cử nhận luật chất lượng, không chỉ chắc về kiến thức pháp lý mà còn vững các kỹ năng tư duy pháp lý nhạy bén, là nguồn lao động trí thức chất lượng cho xã hội, các trường đại học luật đều chủ trương đào tạo kết hợp giữa kiến thức chuyên môn và rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho người học: Kỹ năng phân tích,  tư duy, nhận diện vấn đề pháp lý trong tình huống thực tiễn. Và điều này cũng là đòi hỏi cần đáp ứng trong thực tiễn đào tạo cử nhân luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Hiểu được thực tế đó, Trường đại học luật TP. Hồ Chí Minh đã chủ trương biên soạn cuốn sách "Sách tình huống - Bình luận bản án Luật Hôn nhân và gia đình". Cuốn sách được biên soạn bởi tập thể tác giả là giảng viên tại trường do TS. Lê Vĩnh Châu làm chủ biên.

Nội dung cuốn sách được triển khai gồm có 5 phần:

Phần 1: Kết hôn, hủy kết hôn trái pháp luật và không công nhận quan hệ vợ chồng

Phần 2: Quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng

Phần 3: Quan hệ giữa cha mẹ và con; ông bà và cháu

Phần 4: Ly hôn

Phần 5: Hiệu lực áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình

Cuốn sách là tập hợp các bản án được nhóm tác giả lựa chọn, chứa đựng nhiều tình huống pháp lý đa dạng, phong phú trong đời sống xã hội, được các cấp tòa xét xử trong những năm gần đây. Điều đặc biệt của bản án này cũng như phần bình luận là tập trung vào các vấn đề pháp lý xảy ra trong thực tiễn nhưng chưa được nhà làm luật dự liệu và đưa vào trong luật thực định cũng như các vấn đề pháp lý vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau khi áp dụng luật.

4. Đánh giá bạn đọc

Các bản án của Tòa án nhân dân là nguồn tài liệu thực tiễn rất quan trọng phục vụ việc nghiên cứu pháp luật và áp dụng pháp luật đối với sinh viên luật. Pháp luật hôn nhân và gia đình là một mảng pháp lý thông dụng, sẽ là một trong những mảng pháp lý có nhiều cơ hội công việc đối với cử nhân luật trong tương lai. Bên cạnh những kiến thức pháp lý thì việc rèn luyện các kỹ năng phân tích, luận giải các bản án về hôn nhân và gia đình của Tòa án sẽ giúp sinh viên ghi nhớ kiến thức pháp lý dễ dàng hơn, có thêm những kiến thức thực tiễn, có thêm cơ hội tiếp xúc với những vụ việc thực tế, phức tạp để rèn luyện khả năng tư duy pháp lý ngày một nhạy bén hơn.

Chính bởi vậy, "Tình huống - Bình luận bản án Luật Hôn nhân và gia đình" với nội dung được biên soạn là tuyển chọn và bình luận các bản án của Tòa án về hôn nhân và gia đình sẽ là tài liệu bổ trợ rất đắc lực cho người học trong việc hoàn thiện cả kỹ năng nghiên cứu, tư duy, lập luận và phản biện trước những tình huống thực tiễn về hôn nhân và gia đình.

Cuốn sách không chỉ là học liệu bổ trợ dành cho sinh viên, học viên trong trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh mà còn là tài liệu quý, có ích đối với quý độc giả – những người đang học tập, nghiên cứu chuyên sâu về Luật Hôn nhân và gia đình, với các luật sư, Thẩm phán và những người làm công tác trong lĩnh vực pháp luật.

5. Kết luận

Trên đây là chia sẻ tổng quan của chúng tôi về nội dung cuốn sách "Tình huống - Bình luận bản án Luật Hôn nhân và gia đình" của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! 

Rất nhiều cuốn sách luật hay và hữu ích đã được chúng tôi giới thiệu trong chuyên mục "Sách luật", trong thời gian tới sẽ luôn được cập nhật nhiều hơn nữa. Rất mong nhận được sự quan tâm và theo dõi của bạn đọc.

Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Sách tình huống - Bình luận bản án Luật Hôn nhân và gia đình".

Câu hỏi: Thủ tục đăng ký cha nhận con như thế nào?

Tình huống: Anh A chung sống với chị H như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, chị H mang thai và sinh được bé gái. Chị H đăng ký khai sinh cho con nhưng do không đăng ký kết hôn nên không ghi họ tên cha trong giấy khai sinh của con. Một thời gian sau, do cuộc sống quá khó khăn, vất vả, chị H bỏ đi, để lại con cho anh A nuôi dưỡng và không liên lạc được. Đến tháng 9/2020, con đủ tuổi đi học, anh A muốn làm thủ tục nhận con. Anh A muốn biết anh đăng ký nhận con trong trường hợp này như thế nào?

Giải đáp:
Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28 tháng 5 năm 2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật của hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, quy định như sau:
1. Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, sinh con, người con sống cùng với người cha, khi người cha làm thủ tục nhận con mà không liên hệ được với người mẹ thì không cần có ý kiến của người mẹ trong Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con.
Nếu có Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ thì phần khai về người mẹ được ghi theo Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ. Nếu không có Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ thì ghi theo thông tin do người cha cung cấp; người cha chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp.
Trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cung cấp thông tin về người mẹ và lập văn bản thừa nhận con chung không đúng sự thật tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 nêu trên theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.
................
4. Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật.
Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được cha hoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyết của Tòa án và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Thông tư số 04/2020/TT-BTP.
Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Thông tư 04/2019/TT-BTP thì do anh A chung sống với chị H như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, trong trường hợp này, khi làm thủ tục nhận con mà không liên hệ được với người mẹ thì không cần có ý kiến của người mẹ trong Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con. Nếu có Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của chị H thì phần khai về người mẹ được ghi theo Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của chị. Nếu không có Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người chị H thì ghi theo thông tin do anh A cung cấp; anh A chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp.
Câu hỏi: Chồng ngoại tình có bị xử phạt hành chính không?
Tình huống: Anh B kết hôn với chị K có đăng ký kết hôn, sinh được 01 con trai và một con gái. Sau thời gian làm ăn phát đạt, gia đình trở nên giàu có, chị K phát hiện anh B ngoại tình, đang chung sống với người phụ nữ khác trong một tòa nhà chung cư. Chị Kmuốn biết, hành vi của anh B có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Giải đáp:
Điều 59 Nghị định số 82/NĐ-CP ngày 15/7/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng bị xử phạt như sau:
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
.......
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm d và đ khoản 2 nêu trên.
Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, Anh B đã có vợ (hôn nhân hợp pháp với chị K) mà lại có hành vi chung sống như vợ chồng với người khác trong thì hành vi của anh B sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, mức xử phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.