1. Tổng kết thi hành pháp luật
Thông qua việc tổ chức tổng kết gần 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và 5 năm thi hành Luật luật sư, thu thập ý kiến đóng góp hoàn thiện dự thảo Luật luật sư (sửa đổi), các đoàn Luật sư địa phương đã có báo cáo đánh giá quá trình thực thi các quy định của pháp luật liên quan việc tham gia tố tụng hình sự của luật sư. Về phần mình, Tiểu ban Luật tố tụng hình sự Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã chuẩn bị và tổ chức thành công Hội thảo quốc tế do Liên đoàn Luật sư Việt Nam phối hợp cùng Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức với sự tham gia của Dự án JPP (Hợp phần II) và JICA (Nhật Bản) từ ngày 29 đến 30-3-2012 về việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền bào chữa và quyền hành nghề của luật sư. Tiểu ban Luật tố tụng hình sự cũng đã tham mưu và đề xuất Hội thảo về tháo gỡ khó khăn trong quá trình, hành nghề của luật sư trong giai đoạn xét xử của Tòa án do Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức ngày 20-7-2012 tại Hà Nội.
2. Liên đoàn Luật sư Việt Nam đề xuất xây dựng một chương riêng về bào chữa
Dựa trên báo cáo đánh giá thực trạng và kết quả nghiên cứu pháp luật và mô hình tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới, tại Báo cáo số 251 ngày 29-10-2012, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã chính thức đề xuất với Ban soạn thảo xây dựng một chương riêng về bào chữa trong dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi), kèm theo căn cứ lý luận và thực tiễn cho việc dự thảo các điều luật của chương này, với mục tiêu nhằm đề cao địa vị pháp lý, vai trò và trách nhiệm của người bào chữa trong tố tụng hình sự. Sáng kiến này hướng đến khắc phục tình trạng không bình đẳng giữa người bào chữa với những người tiến hành tố" tụng, quyền năng của người bào chữa phái sinh từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, hoàn toàn phụ thuộc vào sự chấp thuận hay không của cơ quan tiến hành tố tụng. Liên đoàn Luật sư Việt Nam đề nghị người bào chữa phải được tạo các cơ hội để trở thành một bên có vị trí độc lập, bình đẳng với các chủ thể khác, nhất là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội trong việc chứng minh sự vô tội hoặc thực hiện việc gỡ tội. Theo đó, phải bảo đảm khi nào và ở đâu có việc buộc tội, thì ở đó quyền bào chữa phải được thực hiện và tôn trọng. Sự buộc tội càng cao thì sự bào chữa càng phải lớn, tội phạm càng nghiêm trọng, càng phải coi trọng việc bào chữa. Tăng cường hơn nữa trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, đề cao vai trò của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng. Việc người bào chữa tham gia tố tụng không chỉ để thực hiện việc bào chữa, gỡ tội cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, mà còn góp phần cùng các cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật vụ án, tìm đến chân lý khách quan của vụ việc, xác lập một kênh giám sát đối với các cơ quan tư pháp... Sáng kiến nêu trên của Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã được chấp nhận thông qua việc thiết kế một chương riêng là Chương V về bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và đương sự.
3. Hoàn thiện định chế bào chữa
Liên quan đến chế định bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự trong quá trình sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Liên đoàn Luật sư Việt Nam (LĐLSVN) đã triển khai nhiều hoạt động cả chiều rộng lẫn chiều sâu, thông qua việc tổ chức khảo sát và đánh giá thực trạng hành nghề luật sư trong TTHS trong phạm vi cả nước, tổ chức nhiều hội thảo quốc tế và trong nước chuyên sâu với sự tham gia đóng góp ý kiến của các chuyên gia hàng đầu của quốc tế và trong nước, tổng hợp thành các báo cáo, kiến nghị có chiều sâu về hàm lượng tư duy pháp lý.
LĐLSVN cũng được Bộ Công an tham khảo ý kiến trong quá trình xây dựng và ban hành Thông tư số 70 về bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đã ký kết Quy chế với Viện KSND tối cao làm cơ sở cho mối quan hệ phối hợp trong công tác khoa học pháp lý, xây dựng pháp luật, giải quyết các vướng mắc trong hành nghề của luật sư. Với sự hỗ trợ của LHQ và một số tổ chức nước ngoài, LĐLSVN đã tổ chức nhiều đoàn công tác khảo sát tại Hoa Kỳ, Ca-na-đa, CHLB Đức, Nhật Bản, Trung Quốc nhằm tiếp thu những kinh nghiệm hành nghề luật sư trong TTHS của các mô hình TTHS khác nhau trên thế giới. Công tác truyền thông nhằm thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội đã được chú trọng phối hợp thông qua các cuộc tranh luận công khai về “quyền im lặng”, chuyên đề về bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS, chương trình 60 phút mở trên Đài truyền hình Việt Nam (VTV1, VTV6), đối thoại trên Truyền hình Quốc hội...
Nhiều nội dung liên quan vấn đề bào chữa được phản ánh trên báo chí, nhất là việc đề nghị hủy bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận hay đăng ký người bào chữa. Đại diện LĐLSVN đã có cơ hội tham gia và trình bày quan điểm về các vấn đề còn ý kiến khác nhau trong các Hội thảo, Hội nghị do Ủy ban TVQH, Ủy ban Tư pháp Quốc hội tổ chức.
Có thể khẳng định BLTTHS vừa được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9 vào ngày 2-11-2015 vừa qua đã ghi nhận nổi bật chế định bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự trong BLTTHS mới năm 2015. Vấn đề không chỉ dừng lại ở việc BLTTHS 2015 đã xây dựng một chương V mới về bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, mà đã có bước chuyển căn bản trong nhận thức thể hiện trong quy định của BLTTHS quán triệt toàn diện và sâu sắc tinh thần Hiến pháp năm 2013.
4. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
Liên quan đến chế định bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, BLTTHS 2015 đã thể chế hóa những quan điểm và nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Cụ thể:
Một là, một trong những nhiệm vụ của BLTTHS là góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Khoản 4 điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.
Lần đầu tiên quyền bào chữa được quy định trong chương II về quyền con người của Hiến pháp 2013. BLTTHS 2015 đã cụ thể hóa nguyên tắc Hiến định nêu trên tại điều 16 về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”.
5. Nội hàm quyền bào chữa của người bị buộc tội
Điều 16 BLTTHS năm 2015 quy định về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Trong những trường hợp luật định, nếu người buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì các cơ quan nói trên phải yêu cầu đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ. Mặt khác, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội thì việc bào chữa là cần thiết, giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án.
Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự có quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình hoặc nhờ người khác bảo vệ lợi ích của mình nhưng xét về bản chất, đó không phải là việc bào chữa. BLTTHS năm 2015 cũng như các văn bản pháp lý liên quan chưa có khái niệm pháp lý chính thức về quyền bào chữa. Tuy nhiên, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng tôi thấy nội hàm quyền bào chữa của người bị buộc tội bao gồm những vấn đề sau:
Về nội dung: Bào chữa là tất cả các hoạt động của người bị buộc tội và người bào chữa từ khi bị buộc tội đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị. Thông qua hành vi cụ thể, họ sử dụng các quyền luật định để làm sáng tỏ những tình tiết chứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như những tình tiết khác có lợi cho người bị buộc tội. Đó có thể là hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng; hoặc đưa ra chứng cứ nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của người bị buộc tội; hoặc các hành vi tố tụng nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của người bị buộc tội, kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm hình sự trong vụ án.
Về vai trò: Bào chữa là một trong những nội dung cơ bản của tố tụng hình sự, đối trọng với chức năng buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng. Chính sự đối trọng này đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự được dân chủ, khách quan. Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng “Có buộc tội mà không có bào chữa thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính chất một chiều và kết buộc chứ không phải là tranh tụng. Tố tụng hình sự không thể được thừa nhận là dân chủ khi chức năng buộc tội không có đối trọng là chức năng bào chữa…”.
Về thời điểm bắt đầu và kết thúc: Quyền bào chữa xuất hiện từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, có quyết định tạm giữ hoặc từ khi khởi tố bị can. Quyền bào chữa kết thúc khi vụ án được xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật. Trong một số trường hợp đặc biệt, khi những căn cứ của việc buộc tội không còn, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án thì chức năng bào chữa sẽ kết thúc sớm hơn.
Về chủ thể: Quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội (những người bị bắt, bị tạm giữ nhưng chưa bị khởi tố) và người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ. Như vậy, chủ thể của quyền bào chữa là người bị buộc tội, bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)