Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900 6162

Quy tắc xuất xứ trong CPTPP và EVFTA có các quy định theo khung cấu trúc về quy tắc xuất xứ trong WTO và các FTA Việt Nam tham gia, bao gồm: cách xác định và tiêu chí xuất xứ hàng hóa, quy tắc cụ thể đối với từng mặt hàng, cơ chế chứng nhận xuất xứ, cơ chế xác minh xuất xứ. Tuy nhiên, do đặc thù của từng nước đối tác, quy tắc xuất xứ trong mỗi FTA cũng có những khác biệt nhất định. Quy tắc xuất xứ trong CPTPP và EVFTA có một số điểm được phân tích, so sánh với các FTA Việt Nam tham gia như sau:

1. Tiêu chí xuất xứ

Trong các Hiệp định ATIGA và ASEAN+, tiêu chí xuất xứ được áp dụng phổ biến là chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC), hoặc hàm lượng giá trị khu vực 40% (RVC (40). Tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng trong khu vực được tính trên cơ sở giá FOB. Theo đó, việc áp dụng tiêu chí CTC hoặc RVC (40) tương đối phù hợp và thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.

Quy tắc Chuyển đổi mã số HS (CTC) bao gồm CC (chuyển đổi Chương ở cấp độ 2 số); CTH (chuyển đổi Nhóm ở cấp độ 4 số) và CTSH (chuyển đổi phân nhóm ở cấp độ 6 số). Tại tất cả các nước thành viên WCO sử dụng chung hệ thống HS quốc tế, do đó, quy tắc xuất xứ CTC trong các FTA không vượt quá cấp độ Phân nhóm 6 số.

Tại CPTPP, ngoài tiêu chí CTC hoặc RVC (40), Hiệp định cho phép áp dụng một số quy tắc xác định xuất xứ khá mới như quy tắc phản ứng hóa học (đối với các sản phẩm hóa chất), quy tắc tinh chế, công đoạn gia công, v.v.

EVFTA cũng tương tự CPTPP khi áp dụng CTC, quy tắc phản ứng hóa học, công đoạn gia công, v.v. Tuy nhiên, EVFTA có cách tiếp cận ngược với tư duy RVC (40) là sử dụng VL (70). Theo đó, EVFTA không có tiêu chí xác định xuất xứ theo tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng trong khu vực mà xác định theo hạn mức giá trị nguyên liệu không có xuất xứ được phép nhập khẩu để gia công, chế biến thành sản phẩm có xuất xứ. Tỷ lệ này được tính trên cơ sở giá xuất xưởng (EXW) và có hạn mức 70%.

2. Nguyên tắc cộng gộp

Nguyên liệu có xuất xứ của một nước thành viên được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá ở một nước thành viên khác được coi là nguyên liệu có xuất xứ của nước thành viên nơi diễn ra công đoạn gia công, chế biến hàng hoá.

- Một số Hiệp định trong ASEAN áp dụng quy định cộng gộp làm tròn khi hàm lượng giá trị gia tăng của nguyên liệu có xuất xứ đạt tỷ lệ 40% trở lên. Điểm này khác với Hiệp định ATIGA có quy định cộng gộp từng phần với ngưỡng giá trị 20%. Quy định này trước đây được đưa ra nhằm tạo thuận lợi cho việc tận dụng tối đa các phần nguyên liệu có xuất xứ được sử dụng.

- CPTPP và EVFTA áp dụng cộng gộp đầy đủ từ bất kỳ tỷ lệ giá trị gia tăng nào. Tỷ lệ giá trị này sẽ được cộng gộp đúng vào trị giá nguyên liệu có-xuất-xứ trong công đoạn sản xuất tiếp theo. Ngoài ra, như đã trình bày ở trên, EVFTA cho phép cộng gộp mở rộng một số nguyên liệu thủy sản từ ASEAN và nguyên liệu vải của Hàn Quốc.

Lưu ý về nguyên tắc cộng gộp trong các FTA

Các FTA khác Việt Nam đã tham gia

CPTPP và EVFTA

  • Nguyên liệu nhập khẩu phải đáp ứng tiêu chí xuất xứ của FTA.
  • Khi đó, 100% (chứ không phải số % thực tế) giá trị của nguyên liệu nhập khẩu đó sẽ được dùng để tính hàm lượng RVC trong sản phẩm được sản xuất tại nước xuất khẩu sản phẩm đó.
  • Cộng gộp đầy đủ bất kỳ tỷ lệ giá trị gia tăng nào. Tỷ lệ giá trị này sẽ được cộng gộp đúng vào trị giá nguyên liệu có-xuất-xứ trong công đoạn sản xuất tiếp theo.
  • EVFTA cho phép cộng gộp mở rộng một số nguyên liệu.

Nguồn: Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương)

3. Công đoạn gia công đơn giản

CPTPP không quy định công đoạn gia công chế biến đơn giản vì thống nhất quan điểm trong khi đàm phán PSR đã tính đến và loại trừ các công đoạn gia công chế biến đơn giản EVFTA, AKFTA và VKFTA quy định cụ thể từng hành vi được coi là gia công đơn giản. Điểm này khác với hầu hết các hiệp định còn lại chỉ quy định theo hướng đưa ra nguyên tắc chung như: các công đoạn thuộc về bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển (bốc dỡ hàng, xếp hàng, đóng gói hàng hóa). Quy định mang tính chung nhất có thể đảm bảo mọi hành vi liên quan nếu có những đặc điểm như quy định sẽ được loại trừ, không tính đến khi xác định xuất xứ hàng hóa, tránh bỏ sót những hành vi sẽ phát sinh trên thực tế sau này.

Trong một số trường hợp, công đoạn gia công đơn giản không áp dụng đối với tiêu chí xuất xứ RVC (40) nhưng áp dụng đối với tiêu chí CTC. Một số trường hợp khác, công đoạn gia công đơn giản lại áp dụng cả hai tiêu chí RVC và CTC. Sự khác biệt này dẫn tới khác biệt về tiêu chí xuất xứ nêu trong Quy tắc cụ thể mặt hàng.

Những công đoạn gia công, chế biến dưới đây, khi được thực hiện riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau, được xem là đơn giản và không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hóa tại lãnh thổ của một nước thành viên.

So sánh mức độ cam kết về công đoạn gia công đơn giản

STT

Công đoạn gia công đơn giản

Hiệp định

CPTPP

ASEAN(+)

AK/VK

EVFTA

1

Những công đoạn bảo quản hàng hóa trong điều kiện tốt trong quá trình vận chuyển và lưu kho

X

2

Thay đổi bao bì, tháo dỡ và lắp ghép cả kiện hàng

X

3

Tháo rời

X

4

Đóng vào chai, thùng, hộp và các công đoạn đóng gói bao bì đơn giản khác

X

STT

Công đoạn gia công đơn giản

Hiệp định

CPTPP

ASEAN(+)

AK/VK

EVFTA

5

Tập hợp các phần và bộ phận được phân loại như là một hàng hoá theo Quy tắc 2(a) của Quy tắc chung về Giải thích Hệ thống Hài hoà

X

6

Lắp ráp đơn giản các bộ phận của hàng hóa

X

7

Rửa, lau chùi, tẩy bụi và các chất oxít, dầu, sơn hoặc các chất tráng, phủ bề mặt khác một cách đơn giản

X

8

Là hoặc ép thẳng vải

X

9

Sơn và các công đoạn đánh bóng một cách đơn giản

X

10

Xay xát, bóc vỏ, tẩy trắng một phần hoặc toàn bộ, đánh bóng và làm láng ngũ cốc và gạo

X

11

Nhuộm màu đường hoặc tạo đường miếng

X

12

Bóc vỏ, trích hạt, hoặc làm tróc hạt một cách đơn giản

X

13

Mài sắc, mài giũa đơn giản hoặc cắt đơn giản

X

STT

Công đoạn gia công đơn giản

Hiệp định

CPTPP

ASEAN(+)

AK/VK

EVFTA

14

Giần, sàng, lựa chọn, phân loại, xếp loại hoặc xếp nhóm

X

15

Dán hoặc in nhãn, mác hoặc lô-gô và các dấu hiệu phân biệt tương tự lên sản phẩm hoặc lên bao bì của sản phẩm

X

16

Trộn đơn giản các sản phẩm, dù cùng loại hay khác loại

X

17

Kiểm tra hoặc thử nghiệm một cách đơn giản

X

18

Giết mổ động vật

X

19

Kết hợp những công đoạn nêu trên

X

Nguồn: Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương)

4. Quy định ngưỡng “De minimis”

Ngưỡng “De-minimis” được áp dụng trên cơ sở một số khác biệt tại các FTA. Về cơ bản, các hiệp định đều có cách tính de minimis khác nhau (theo trọng lượng hoặc trị giá), cho các sản phẩm dệt may hoặc sản phẩm khác với tỉ lệ là 10%. Riêng Hiệp định AJCEP, một số mặt hàng nhạy cảm đối với Nhật Bản được áp dụng ngưỡng trị giá thấp hơn (7%). Cũng trong hiệp định này, một số sản phẩm không được áp dụng de-minimis.

CPTPP quy định tỷ lệ “linh hoạt” cho phép nguyên liệu không có xuất xứ không đáp ứng quy tắc “Chuyển đổi mã số hàng hóa” ở mức tối đa 10% so với trị giá của hàng hóa. Riêng đối với hàng dệt may, tỷ lệ “linh hoạt” này ở mức tối đa 10% trọng lượng của hàng hóa hoặc 10% trọng lượng của loại sợi hoặc vải quyết định phân loại mã số hàng hóa. Loại trừ áp dụng De Minimis với một số nguyên liệu sử dụng để sản xuất mặt hàng bơ sữa, nước ép hoa quả, dầu ăn.

Tỷ lệ de-minimis trong EVFTA là 15% tính theo giá xuất xưởng với các sản phẩm nói chung. Tỷ lệ này tính theo trọng lượng đối với nguyên liệu dệt may là 10% và sản phẩm dệt may là 8%, có tính đến vải lót.

Dệt may là nhóm sản phẩm duy nhất có phần mô tả hàng hóa bằng trọng lượng, theo tỷ trọng của bông, xơ, sợi đặc thù được sử dụng để tạo nên thành phẩm dệt may đó. Đặc thù của dệt may có nhiều loại chất liệu về trọng lượng rất nhẹ nhưng trị giá rất lớn. Nếu chỉ cho phép ngành dệt may áp dụng duy nhất tiêu chí de-minimis tính theo trị giá, một số loại nguyên liệu tuy rất nhẹ nhưng trị giá rất lớn đó sẽ không có cơ hội được áp dụng de-minimis, dẫn đến thành phẩm có thể ko được hưởng ưu đãi thuế quan đặc biệt FTA, mặc dù chỉ có một lượng phần trăm rất nhỏ bé (hoặc trị giá hoặc trọng lượng) nguyên liệu không đáp ứng quy tắc xuất xứ.

5. Quy định ngưỡng miễn nộp C/O

- Ngưỡng miễn nộp C/O trong AKFTA, ATIGA và ASEAN+, ATIGA VÀ ASEAN+ là 200USD.

- Đối với VKFTA, ngưỡng miễn nộp C/O là 600 USD.

- Đối với CPTPP, ngưỡng miễn nộp C/O là 1000 USD.

- Đối với EVFTA, nhà xuất khẩu được phép tự khai báo xuất xứ khi giá trị lô hàng từ 6.000 EUR trở xuống.

6. C/O giáp lưng

C/O giáp lưng nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, đặc biệt trong các trường hợp chia tách lô hàng, bán một phần lô hàng vào nước nhập khẩu trung gian, phân phối tiếp một phần lô hàng sang các nước thành viên tiếp theo. Theo quy định về C/O giáp lưng, hàng hóa có xuất xứ trong khu vực duy trì được tình trạng xuất xứ của nước xuất khẩu ban đầu, tránh được tình trạng mất xuất xứ tại nước thành viên trung gian bằng cách cho phép tổ chức cấp C/O của nước trung gian được cấp C/O giáp lưng. Một trong những điều kiện quan trọng để được cấp C/O giáp lưng là hàng hóa vẫn nằm trong kiểm soát của cơ quan Hải quan nước nhập khẩu trung gian và C/O gốc ban đầu vẫn còn hiệu lực.

“Back-to-back C/O” hay “Movement Certificate” là 2 tên gọi khác nhau nhưng cùng một bản chất của Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa có tên gọi “C/O giáp lưng” - C/O được cấp bởi Bên thành viên xuất khẩu trung gian dựa trên thông tin của C/O được cấp bởi Bên thành viên xuất khẩu đầu tiên. AKFTA yêu cầu nhà xuất khẩu trên C/O giáp lưng và nhà nhập khẩu trên C/O gốc phải là một, có nghĩa là ai nhập khẩu (trên C/O gốc) thì người đó phải đồng thời phải là người xuất khẩu (trên C/O giáp lưng) và không được phép bán hàng cho một ai khác tại Bên thành viên trung gian. Đây là quy định chặt chẽ, phần nào giảm sự thuận lợi trong quan hệ thương mại có nhiều hơn 2 Bên tham gia. Một số FTA chặt hơn, thậm chí còn yêu cầu sản phẩm hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của cơ quan hải quan. Hiện nay C/O giáp lưng chỉ được cấp một lần trên cơ sở C/O gốc.

CPTPP không có quy định về C/O giáp lưng do cơ chế chứng nhận xuất xứ chủ yếu của các nước CPTPP là tự chứng nhận xuất xứ.

EVFTA không có có quy định về C/O giáp lưng do Hiệp định chỉ có 2 thành viên, không có nước thành viên trung gian.

7. Hàng hóa sử dụng để triển lãm và Vận chuyển trực tiếp

Đối với hàng hóa sử dụng trưng bày tại triển lãm, nhưng sau đó được bán ngay tại triển lãm, CPTPP, EVFTA và các FTA đều đã bổ sung thêm ưu đãi thuế quan đối với các mặt hàng này. Trường hợp có sự tham gia của bên thứ ba trong quan hệ thương mại giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, các FTA quy định bên thứ ba có thể được phép phát hành hóa đơn và theo đó, nhà nhập khẩu vẫn được hưởng ưu đãi thuế quan.

Các FTA đều có quy định hàng hoá phải được vận chuyển trực tiếp từ lãnh thổ của nước thành viên xuất khẩu tới lãnh thổ của nước thành viên nhập khẩu. Hàng hóa trong quá trình vận chuyển từ nước thành viên xuất khẩu đến nước thành viên nhập khẩu phải quá cảnh qua một hay nhiều nước trung gian vẫn được coi là vận chuyển trực tiếp, với điều kiện hàng hóa chỉ quá cảnh hoặc lưu kho tạm thời, dỡ hàng, bốc lại hàng, và những công việc khác nhằm bảo quản hàng hoá trong tình trạng tốt.

Việc quá cảnh là vì lý do địa lý hoặc lý do yêu cầu về vận tải; Hàng hoá không tham gia vào giao dịch thương mại hoặc tiêu thụ;

Hàng hoá không trải qua bất kỳ công đoạn nào khác, ngoài việc dỡ hàng và xếp lại hàng hoặc những công việc nhằm bảo quản hàng hoá.

8. Các FTA có tiêu chí xuất xứ giống nhau với cùng một mặt hàng nhưng ý nghĩa và cách áp dụng không giống nhau

Có một số nhóm hàng có quy tắc xuất xứ gần như tương đồng trong các FTA. Tuy nhiên do một số FTA như VJEPA, VKFTA là Hiệp định song phương nên quy tắc xuất xứ dù tương đồng với CPTPP, AJCEP nhưng lại bị hạn chế về nguyên liệu nhập khẩu đầu vào so với Hiệp định đa phương.

Ví dụ, cá hồi phi lê có mã HS thuộc chương 03, quy tắc xuất xứ đối với mặt hàng này trong các FTA đều là CC (chuyển đổi chương). Cá hồi phi lê được sản xuất từ cá hồi cũng có mã HS thuộc chương 03. Do đó, để sản phẩm cá hồi phi lê đạt tiêu chí xuất xứ là CC, bắt buộc nguyên liệu đầu vào (cá hồi) phải được nhập khẩu từ các nước thành viên Hiệp định. Do đó, trường hợp doanh nghiệp xin C/O mẫu VJ theo Hiệp định VJEPA, nguyên liệu cá hồi phải có xuất xứ từ Nhật Bản hoặc Việt Nam. Còn trường hợp doanh nghiệp xin C/O mẫu CPTPP hoặc mẫu AJ theo Hiệp định CPTPP hoặc AJCEP, nguyên liệu cá hồi có thể có xuất xứ từ các nước thành viên khác của CPTPP hoặc ASEAN.

9. Kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa

Một số FTA và GSP nước nhập khẩu quy định khác biệt đôi chút về trình tự kiểm tra, xác minh và phối hợp hành chính giữa nước nhập khẩu và nước xuất khẩu. Tuy vậy, hai phương thức cơ bản gồm: (i) kiểm tra hồ sơ, chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa đã cấp hoặc đã phát hành và (ii) kiểm tra, xác minh tại cơ sở sản xuất vẫn được áp dụng, cụ thể:

- FTA song phương và đa phương Việt Nam đang thực thi: cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu và nước xuất khẩu phối hợp kiểm tra hồ sơ, chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa trước khi xác minh tại cơ sở sản xuất của doanh nghiệp nước xuất khẩu;

- EVFTA: cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu và nước xuất khẩu phối hợp kiểm tra hồ sơ, chứng từ C/O; phương thức xác minh tại cơ sở sản xuất của doanh nghiệp nước xuất khẩu không áp dụng;

- CPTPP: cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu liên hệ trực tiếp với người nhập khẩu hay người xuất khẩu, nhà sản xuất của nước xuất khẩu để yêu cầu thông tin hoặc đi xác minh tại cơ sở sản xuất, không cần thông qua cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu.

- GSP, WTO và khuôn khổ khác: cơ quan hải quan hoặc cơ quan chức năng nước nhập khẩu và cơ quan có thẩm quyền trong nước phối hợp kiểm tra hồ sơ C/O hoặc xác minh tại cơ sở sản xuất của thương nhân. Các nước cho Việt Nam hưởng GSP, MFN thường tiến hành kiểm tra, xác minh thực tế độc lập, trước đó không nhất thiết đề nghị kiểm tra hồ sơ C/O đã cấp như quy định trong các FTA ASEAN và ASEAN +.

Cơ chế kiểm tra, xác minh chứng nhận xuất xứ do doanh nghiệp phát hành của REX không có khác biệt so với cơ chế kiểm tra, xác minh C/O mẫu A, tuy nhiên tổ chức tiếp nhận đăng ký mã số REX tại nước thụ hưởng GSP đóng vai trò quan trọng trong việc thường xuyên kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa.

Các FTA đều có quy định Nước thành viên nhập khẩu có thể yêu cầu Tổ chức cấp C/O nước thành viên xuất khẩu:

+ Kiểm tra hồi tố hoặc kiểm tra ngẫu nhiên hoặc

+ Khi có lý do nghi ngờ tính chính xác của các chứng từ hoặc tính xác thực của các thông tin liên quan đến xuất xứ thực sự của sản phẩm hoặc bộ phận sản phẩm.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập